Phiếm đàm huyền học - niềm tin
Những chứng nghiệm chủ quan thường không thể diễn tả truyền đạt bằng các phương tiện thể hiện như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, hoặc mô phỏng bằng ẩn dụ, bằng động tác... Những người đưa ra các thuyết siêu hình, lập ra các tôn giáo thường xuất phát từ trải nghiệm, kinh nghiệm bản thân là những bằng chứng chủ quan mà họ tin chắc chắn vào tính xác thực của chúng. Những thuyết được xây dựng trên những khởi điểm là trải nghiệm cá nhân đều xa lạ với khoa học chính thống, vì trải nghiệm không thể truyền đạt lại hay để người khác lặp lại. Các nhà truyền giáo thuyết pháp rất nhiều nhưng đều kết luận rằng, đường vào Đạo (của họ) là một cuốn kinh vô tự và càng bám chặt vào ngôn ngữ càng xa rời đạo. Người không có trải nghiệm cá nhân chỉ có thể đến với những thuyết này do đã đặt niềm tin của mình vào giáo thuyết đó hoặc vào những người đại diện của thuyết đó.
Vậy niềm tin là gì? Tin là khi ta quan niệm một cái gì đó là sự thật không cần đến các chứng nghiệm. Mặt khác niềm tin là một khả năng tâm lý đặc biệt của con người khiến ta có thể hành động (ra quyết định) bất chấp thiếu sót thông tin về đối tượng. Nếu xét kỹ, một người luôn tự hào là kẻ lúc nào cũng sáng suốt, khách quan sẽ phải thấy mình suốt ngày vẫn hành động chủ yếu dựa vào niềm tin. Nếu chỉ hành động khi biết đầy đủ và chắc chắn về đối tượng hoặc sự việc phải làm, ta sẽ không làm được gì hết. Người ta cho rằng khi không bị thuyết phục mà vẫn có niềm tin thì niềm tin ấy có thể xuất phát từ tiềm thức. Nói đến tiềm thức hoặc vô thức là nói đến những cái không thể nắm bắt. Tiềm thức, vô thức là những khái niệm xây dựng nên các khoa học Tâm lý học, Tâm thần học và được vận dụng để giải thích các hoạt động tinh thần của con người. Nhưng cũng chính vì thế các khoa học này nằm trên vùng giáp ranh với siêu hình. Khi xét thuyết Âm Dương Ngũ Hành, Bát quái và ứng dụng hệ thống các khái niệm để xây dựng những học thuyết khác như Y học, Phong Thủy, Bốc phệ... ta chỉ có thể ít nhiều tin vào sự khả tín của chúng và lý giải rằng niềm tin đó xuất phát từ những trải nghiệm sâu xa còn lưu lại trong tiềm thức của chúng ta. Muốn hủy diệt một đối tượng tâm linh nào, chỉ cần lấy lại niềm tin đã đặt vào nó. Một khi anh đã không tin vào những điểm xuất phát dựa vào niềm tin của một học thuyết thì với anh học thuyết ấy đã sụp đổ bất chấp những chứng nghiệm là nó có khi đúng. Vì cho cùng một đối tượng, trên cõi đời có nhiều con đường của niềm tin xuất phát từ những vũ trụ quan khác nhau đưa đến những học thuyết tương đương. Với những nền văn minh phát triển song song nhau, mỗi học thuật tiên tri là một hiện tượng văn hóa khu vực mang phong cách tư duy truyền thống và vũ trụ quan đặc thù, được một khu vực địa cầu chấp nhận áp dụng và có một mức độ chứng nghiệm nhất định.
Hãy lấy thí dụ những lều trại trên thảo nguyên Mông Cổ, tiêu chuẩn tối cao của phong thủy lều trại là phải tránh gió lạnh thảo nguyên thổi thốc vào lều, những lều dựng trên sa mạc cũng có tiêu chuẩn tương tự, như vậy thuật phong thủy xuất sứ từ Trung Hoa khó thể áp dụng tại những khu vực này. Người Ấn độ cũng có môn Vaastu hoàn toàn tương đương môn phong thủy của Trung quốc nhưng có xuất sứ lịch sử từ kinh Veda trước đây ba ngàn năm. Cơ sở ứng dụng của Vaastu là một Mandala (đồ thức năng lượng) cho phép người Ấn căn cứ vào đó kiến thiết nhà cửa, đền đài, đô thị cho hợp với những nguyên tắc vũ trụ. Khác với Phong Thủy được bổ sung thêm thắt chủ yếu trong thế kỷ cuối, những nguyên tắc chủ yếu của Vaastu đã có từ thuở xa xưa, nhưng những quy định trong Vaastu gần như hoàn toàn không trùng hợp với Phong Thủy Tàu. Khó khăn chủ yếu trong nhận dạng quy luật phong thủy là tính xếp chồng tác dụng quy luật mang tính khách quan với tác dụng lòng tin của con người mang lại. Và như vậy, môn phong thủy trong những khu vực văn hóa khác nhau rất có thể được chứng nghiệm khác nhau.
Tác dụng của lòng tin? Trong phong thủy (cũng như vận dụng các thuật tử vi, tử bình...) Người ta giải thích hiện tượng đã, đang xẩy ra gắn liền với môi trường sống đồng thời cũng thực hiện các phép tiên tri cho tương lai, hậu vận một ngôi nhà trong quan hệ với chủ nhà. Bản thân hiện tượng Tiên tri đã là một chủ đề nghiên cứu của triết học, tâm lý học. Muốn thực chứng khả năng chứng nghiệm của tiên tri phải loại bỏ ảnh hưởng cái Tin của con người. Tiên tri bằng các thuật Tử vi, Tứ trụ, Phong thủy … căn cứ vào những quy ước, những cách cục chỉ là những tiên tri „mờ“: Không ai có thể trực tiếp từ những thuật này nhận ra được một sự việc dứt khoát sẽ xẩy ra vào thời điểm, địa điểm xác định. Các tư liệu lịch sử cho thấy rằng những tiên tri có tính khẳng định bao giờ cũng thu nhận được bằng con đường trực giác, nhưng người thực hiện tiên tri thường không nói ra sự thật đó và người đời thường hiểu lầm rằng phương pháp tiên tri của người đó đạt chính xác cao. Nhiều người lầm lẫn, cố gắng học tập vô ích để đạt trình độ của bậc thầy.
Con người quan sát các vùng xa xôi của vũ trụ bằng kính viễn vọng. Muốn nhìn vào quá khứ - tương lai các nhà siêu hình cũng cần đến những phương tiện, dụng cụ nhất định. Người ta đã chứng nghiệm rằng, các shaman vùng Siberia hoặc trong các rừng già Nam Mỹ khi hành nghề thường gõ trống với tần số khoảng 4 Hz. Tần số đó tạo điều kiện cho việc xuất thần vào các không gian khác được nhanh chóng. Vậy cái trống là phương tiện xuất thần của shaman. Xét cho cùng, bài Tarot, bài Lenormand, kinh Dịch, các sơ đồ Tử vi cũng không hơn gì một ma trận những mảnh sành và mẩu xương mà một người shaman tung ra trên cát để thực hiện tiên tri. Khó thể nói rằng tiên tri theo phương pháp này cao hơn phương pháp khác. Các con bài, quẻ Dịch, mẩu xương, vỏ ốc… tự chúng không trực tiếp mang đến thông tin mà chủ yếu là phương tiện khởi động trực giác của người thực hiện thuật tiên tri. Tính chính xác của tiên tri cuối cùng chỉ phụ thuộc vào chính khả năng (trực giác) của người thực hiện thuật tiên tri mà thôi. Còn khả năng của người đó từ đâu đến lại là chuyện khác.
Bạn có thể tự mình đề ra một phương pháp tiên tri mới với những quy ước không có mâu thuẫn nội tại thí dụ ý nghĩa các quan hệ phân bố những hạt đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ… mà bạn sẽ tung vào một cái chậu, nếu bạn hoàn toàn tin tưởng vào phương pháp tiên tri của bạn và nếu bạn luyện được hoặc có được bẩm sinh một khả năng cảm ứng, còn gọi là trực giác, rất có thể phương pháp tiên tri của bạn tìm ra cũng thực hiện được các tiên đoán không thua kém bất cứ một phương pháp tiên tri nào xây dựng trên một cấu trúc phức tạp như kinh Dịch chẳng hạn. Những phương pháp tiên tri cổ điển quen thuộc chẳng qua cũng do một cá nhân sáng tạo ra như vậy. Nếu một ngày nào bạn không còn TIN vào phương pháp đó nữa (hoặc một phương pháp vẫn sử dụng nào khác), lâu đài tri thức kiến trúc trên cơ sở phương pháp đó sẽ mất hết tác dụng và sụp đổ không còn dấu vết. Đó cũng là lý do tại sao những người lãnh đạo tôn giáo, lãnh tụ chính trị luôn luôn kêu gọi bạn đặt niềm tin tuyệt đối vào họ. Niềm tin của con người có sức mạnh lớn lao và cũng thực sự là một nguồn năng lượng quý giá, không thể ban phát một cách nhẹ dạ.
NIỀM TIN nếu đặt sai chỗ có thể mang lại hậu họa. Nhiều nhà huyền học cao thâm nhận định rằng, khi cầu nguyện trước các pho tượng trong đền chùa, nhà thờ… các tín đồ đã nạp năng lượng từ niềm tin của mình vào những pho tượng đó. Với thời gian và số lượng tín đồ khối năng lượng sẽ đủ lớn để có thể chuyển thành một linh thể độc lập và có tác dụng khống chế ngược lại các tín đồ như ban phát những ân huệ nhỏ, đồng thời đòi hỏi những cống hiến năng lượng để chúng tồn tại và phát triển như qua số tiền tín đồ phải dâng cúng (mỗi khoản tiền chứa đựng một khối lượng năng lượng của người dâng cúng mà người đó phải bỏ ra trong lao động để có số thu nhập đó). Những linh thể như ma quỷ có thể trách phạt người này, người khác nếu nó không vừa ý. Nếu bạn nhận thấy đền chùa bạn đến cầu cúng có tác dụng cầu được ước thấy, thì lúc ấy những pho tượng thờ đã là nơi trú ngụ của những ma quái. Phật, Thánh - nếu tồn tại - về nguyên tắc sẽ không chấp sự đời, không khen thưởng hay trách phạt bạn, vì bạn phải gánh chịu cái Nghiệp do hành động của mình, trừ khi bạn có một duyên nghiệp rất đặc biệt. Chỉ có ma quỷ mới thưởng phạt và chi phối con người nếu con người từ bỏ tự chủ và nương tựa vào chúng. Đó là sự chiêu ma vào thân để chuốc lấy hậu họa. Một đặc điểm dễ nhận ra của những đền thờ ma quỷ là khi cúng dâng bạn phải đặt lễ tiền mặt. Lấy lại niềm tin đã đặt vào chúng, bạn sẽ thoát khỏi khống chế của chúng và chúng sẽ trở về với hư vô.
DUYÊN NGHIỆP TRONG HUYỀN HỌC
Nhiều người truyền đạt các môn học về Thuật Tiên tri thường khuyến khích người học cố gắng theo đuổi để thành tài. Nếu các vị đã từng học qua môn Tử vi sẽ nhận ra rằng không phải cứ cố là được. Một cuốn sách của Trung Quốc có nhận xét rằng Tử vi là bà chúa của các học thuật tiên tri, ta cứ tạm cho là như vậy. Nói chung thuật Tử vi được người Việt Nam tín nhiệm, diễn đàn nào cũng có chuyên mục cho Tử vi và được tham gia đông đảo. Tri thức quan trọng trong Tử vi cần rút ra ở đây là những người có thể hành nghề trong lĩnh vực tiên tri nói chung (làm thày, làm bà) phải hội tụ được những bộ sao nhất định trong lá số của mình. Ít nhất, nhận xét đó có lý vì không phải người nào cũng có khả năng trực giác cao. Nhiều người chăm chỉ học và nắm được cơ bản những thuật như Mai hoa dịch, bói Dịch nhưng lấy số vẫn chủ yếu là sai! Tại sao vậy? Tại vì họ không có „duyên“ với những thuật này. Nói đến „Duyên“ là dây dưa vào một phạm trù mênh mông, liên quan đến thuyết nhân quả, đến Phật giáo…, một đề tài cho một nghiên cứu nghiêm túc. Vậy xin tránh đi sâu ở đây. Tuy vậy vẫn có thể hiểu „duyên“ qua một diễn giải đơn giản:
Những năm gần đây cụ Phạm Văn Các có viết những cuốn sách chủ yếu về thuật bói Dịch. Đó là những cuốn sách có chứa đựng những tư duy mới phát triển môn bói Dịch, đồng thời đưa ra những luận cứ và các kết quả suy diễn rất thuyết phục. Không có lý do để nghi ngờ những khả năng tiên tri qua bốc dịch của cụ, nhưng không phải học viên nào nắm được các phương pháp của cụ cũng đều có cái „Duyên“ để gặp giờ duy nhất „có ý nghĩa“ mà lập quẻ phán đoán đúng được như cụ. Họ không phải người được „Thánh cho ăn lộc“. Ta hãy giả định rằng, những người xin quẻ của Cụ đến vào một giờ trong số 11 giờ khác, liệu cụ Các có từ 1 quẻ bất kỳ trong số 11 quẻ Dịch trong ngày đó áp dụng những phương pháp của mình nói ra được những tiên tri như từ quẻ Dịch „có ý nghĩa“ không. Chắc chắn là không! Chính vì cái „Duyên“ của cụ với bốc Dịch và „duyên“ với những người có duyên với cụ nên khi đến xin cụ lấy quẻ chẳng hạn họ sẽ đến vào thời điểm duy nhất cho ra quẻ Dịch „có ý nghĩa“. Nếu người kia đến bất cứ giờ nào, cho ra quẻ nào ngày hôm đó cụ cũng đều nói đúng tất như quẻ vào giờ „có ý nghĩa“ thì đó là chuyện tào lao, đồng bóng không còn là thuật bói Dịch. Như đã nói ở trên, mỗi môn huyền học đều thờ một tổ sư, võ thuật cũng vậy. Lý do nằm trong lĩnh vực tâm linh nhưng kể cũng dễ hiểu.
Vì vậy những cách cục mà cụ Các diễn giải rất hấp dẫn sẽ chỉ có ý nghĩa ứng dụng trong trường hợp „hữu duyên“. Ta có thể suy diễn cái „Duyên“ này vào các thuật tiên tri khác. Hải thượng Lãn ông có nói về cái „Duyên“ đại ý rằng: Thầy thuốc chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân là nhờ phúc của bệnh nhân, bệnh nhân gặp thầy thuốc chữa cho mình khỏi bệnh (hoặc khỏi luôn cả mệnh) là do „duyên“ giữa bệnh nhân và thầy thuốc. Theo tôi, đó là lời tâm đắc tổng kết cả cuộc đời thầy thuốc của cụ có thể ứng dụng không những vào những học thuật tương tự y thuật.