Nguyên văn bởi
Hùng804
Trên thực tế co thấy, dù là mệnh "Đồng tử tinh", cũng không nhất thiết là phải chết yểu (nếu biết cách).
Có một phương pháp rất đơn giản mà không cần động đến các vị đạo gia, thêm rắc rối, tốn tiền vô ích. Tất cả đều là từ tấm lòng thành của con người.
Đối với mệnh "Đồng Tử tinh", tốt nhất là đem vào chùa, xin vị trụ trì tụng một hồi chuông Đại Hồng chung, xin một pháp danh cho mệnh chủ. Hàng tháng vào ngày rằm, đến chùa cùng viếng, Sau khi qua khỏi 12 tuổi thì không việc gì. Còn phải xem toàn thể khí thế bát tự mới xác định mệnh hung yểu như thế nào. Chứ không nhất thiết tất cả mệnh này đều là yểu vong!
Mệnh Đồng tử tinh, rất có duyên với Phật Pháp, nếu có thêm Ấn Kiêu thì học huyền học là hết sức linh mẫn.
Cố tránh phạm phải chuyện trai gái sa lầy mà dễ bị họa. Thuyết này là rất đúng chứ không sai và thường là tình duyên hay gặp trắc trở.
Các bạn có thể dựa theo Quyết sau đây để tìm mệnh Đồng Tử Tinh:
"Xuân Thu Dần Tý Quý,
Đông Hạ Mão Mùi Thìn;
Kim mộc Mã ( Ngọ ) Mão hợp,
Thủy hỏa Kê Khuyển ( Dậu Tuất ) nhiều;
Thổ mệnh gặp Thìn Tị,
Đồng tử định không sai."
Chỗ ý tứ của khẩu quyết này là: Trong bát tự của bạn, chi tháng ở hai mùa Xuân Thu, tức nông lịch từ tháng 1-3 và tháng 7-9, nếu như chi ngày hoặc chi giờ có chữ "Dần" hoặc "Tý" thì chính là mệnh có Đồng tử, chi tháng ở hai mùa Đông Hạ, tức nông lịch là tháng 10-12 và tháng 4-6, nếu như chi ngày hoặc giờ có chữ "Mão" hoặc"Mùi" thì chính là mệnh có Đồng tử;
Năm mệnh nạp âm là kim và mộc, chi ngày hoặc chi giờ có chữ "Ngọ" hoặc"Mão" thì chính là mệnh có Đồng tử, năm mệnh nạp âm là thủy và hỏa, chi ngày hoặc giờ có chữ "Dậu" hoặc "Tuất" thì chính là mệnh có Đồng tử; năm mệnh nạp âm là thổ, chi ngày hoặc chi giờ có chữ "Thìn" hoặc"Tị" thì chính là mệnh có Đồng tử.
Lý lẽ này là cần chú ý: mùa Xuân là chỉ nông lịch sau Lập Xuân đến trước ngày Lập Hạ là dừng lại, tức là tháng 1, 2 và 3 (mệnh lý truyền thống đều là đối chiếu với tiết khí để nói, không phải là mùng một tết đầu năm nông lịch, lý này nhất định phải chú ý, ở bên dưới cũng như vậy); mùa Hạ là chỉ nông lịch sau tiết Lập Hạ đến trước ngày Lập Thu là dừng lại, tức từ tháng 4 đến tháng 6 nông lịch; mùa Thu là chỉ sau tiết Lập Thu đến trước ngày Lập Đông của nông lịch, tức là nông lịch từ tháng 7 - 9; mùa Đông là chỉ tháng 10 - 12.
Chúng ta sẽ tra ra bản thân là có hay không có mệnh Đồng Tử, hiện tại để giải thích mệnh Đồng Tử : Chỗ gọi là mệnh Đồng tử, đối chiếu lý luận của nhà Phật, kiếp trước của bạn là ở Cung miếu quan tự, ở bên cạnh các vì thần tiên là tiểu đồng, thị nữ, nô bộc, thân thể suốt đời giữ nguyên là đồng tử (nhi đồng), các loại nguyên nhân sau này cho rằng đầu thai làm con người, nguyên nhân này bao gồm cả việc nhớ phàm trần, bỏ trốn phạm sai lầm mà phạt, có sứ mệnh đặc thù. Đối chiếu với cách nói truyền thống, người có mệnh đồng tử cho rằng không thuộc về thế giới này, cũng có thể chết yểu, cũng có thể mặc dù là không chết yểu sớm, nhưng mà suốt đời lận đận không thuận lợi, bôn ba lao khổ không có bệnh thì cũng gặp họa, lực cản trở việc làm rất nặng khó mà thành tựu, còn có đặc điểm điển hình chính là hôn nhân khó thành, tức khiến cho trở thành là vợ chồng gặp nhiều chuyện bất hòa.
Tuy nhiên, nếu làm theo phép trên thì có thể hóa giải dễ dàng. Nó còn rất nhiều truyền thuyết kể về mệnh này.
Bởi vì tôi cũng là mệnh này, sống đến nay, tôi mới viết ra những lời thực tế này hầu để cho các bạn tham khảo.