-
Nguyên văn: Sát không có Thực chế mà dụng Nhận gánh Sát. Sát khinh Nhận trọng, thì hỉ trợ Sát; Nhận khinh Sát trọng, thì hỉ chế phục; không có Thực được đoạt, Ấn vận vì sao gây hại? Thất Sát đã thuận, hỗn tạp Quan thì không lợi.
Từ chú: Sát không có Thực chế, hoàn toàn là thân cường, phương có thể địch Sát, thân cường nhất định là dụng Nhận vậy. Nhưng Nhận khinh Sát trọng, vẫn cần có vận chế Sát, nguyên cục không có vận Thực Ấn cũng tốt. Sát khinh Nhận trọng, Quan vận không tổn thương, Sát trọng Nhận khinh, Quan vận có hại.
Như mệnh của Triệu Viên ngoại:
Tỉ Sát Nhật chủ Tỉ
Mậu Thìn Giáp Dần Mậu Dần Mậu Ngọ
Mậu,Ất,Quý Giáp,Bính,Mậu Giáp,Bính,Mậu Đinh,Kỷ
Tỉ,Quan,Tài Sát,Kiêu,Tỉ Sát,Kiêu,Tỉ Ấn,Kiếp
Quan đái Trường Sinh Trường Sinh Đế vượng
Đại vận: Ất Mão/Bính Thìn/Đinh Tị/Mậu Ngọ/Kỉ Mùi/Canh Thân
Thân cường Sát vượng, mà đúng nơi hành vận, đều là đất Ấn Kiếp bang thân là vận tốt nhất vậy. Sát tuy thuần mà nhật nguyên lại vượng, cho nên Ất Mão là đất của Quan thì có ngại, mà Canh Tân chế Sát là không tốt vậy.
-
Chương 41. Luận Thương quan
Nguyên văn: Thương quan tuy không phải là cát thần, thật ra là tú khí, cho nên các văn nhân, học sĩ phần nhiều bên trong được Thương quan cách. Mà Hạ mộc thấy thủy, Đông kim thấy hỏa, thì lại là tú mà càng thêm tú vậy.Trong đó cách cục so với nhiều cách khác thì biến hóa càng nhiều, do tra xét khí hậu, suy tính cường nhược, xét rõ hỉ kỵ, xem xét thuần tạp, thâm thúy lại càng thâm thúy, không thể kén chọn vậy.
Từ chú: Thương Quan, Thực Thần nguyên nhân là tiết kỳ tú khí, thân vượng mà dụng Quan Sát để khắc, không như dụng Thương Thực để tiết. Mà lấy Thực Thương làm dụng, người tất phải thông minh khác thường, thường thì văn nhân học sỹ đa số là thuộc loại này, cũng là thế tự nhiên vậy. Hạ mộc gặp hỏa, tức là mộc hỏa Thương quan, sinh ở mùa Hạ, hỉ gặp thủy nhuận; Đông kim gặp thủy, gọi là kim thủy Thương quan, sinh ở mùa Đông, hỉ gặp hỏa ôn, cũng gọi là tú khí. Còn như xét về khí hậu, suy tính vượng nhược, xét rõ hỉ kỵ, xem xét thuần tạp, là cách xem mệnh quan trọng, chứ không chỉ có Thương quan mà suy vậy.
Nguyên văn: Nguyên nhân có Thương quan dụng Tài, là thương hại không có lợi ở con người, cho nên là hung, Thương quan sinh Tài thì lấy Thương làm công cụ sinh lợi cho Quan, chuyển hung thành cát, cho nên là tốt nhất. Chỉ cần thân cường mà có căn, thì tiện cách sẽ thành quý cách. Như Nhâm Ngọ/Kỉ Dậu/Mậu Ngọ/Canh Thân là mệnh của Sử Xuân Phương vậy.
Từ chú: Công cụ sinh cho Quan là Tài vậy. Tóm lại, dụng Quan thì không cần gặp Thương quan, mà dụng Thương quan cũng không nên gặp Quan, không thể cùng dùng chung vậy. Cũng có khi Thương Quan gặp Quan mà Tài tiết Thương để giải cứu vậy, như mệnh của Mỗ Thị Lang, Nhâm Tuất/Kỉ Dậu/Mậu Tuất/Ất Mão, là thổ kim Thương quan, giờ phùng Ất Mão, là Thương quan kiến Quan. Năm thấu Nhâm thủy thì Thương quan sinh Tài, Tài sinh Quan, Quan tinh chẳng những không bị thương, Thương quan ngược lại làm công cụ để sinh cho Quan, chuyển hung thành cát. Lại như mệnh của Mỗ Tri phủ, Canh Ngọ/Kỉ Mão/Nhâm Thân/Kỉ Dậu, là thủy mộc Thương Quan, Kỷ Quan lưỡng thấu, là Thương Quan kiến Quan, hỉ được chi năm là Ngọ tàng chứa Đinh hỏa Kỉ thổ, Tài Quan đồng cung, Thương quan sinh Tài, chuyển lấy sinh Quan, hung biến thành cát vậy. Đến như mệnh Sử Xuân Phương ( Nhâm Ngọ, Kỷ Dậu, Mậu Ngọ, Canh Thân ), chính là Thương sinh Tài vậy. Thân cường hỉ tiết, thân nhược thì kỵ tiết, cho nên lấy thân cường là điểm quan trọng bậc nhất vậy. Tài có căn lại được Thương quan sinh cho, càng thấy rõ thanh thuần mà có thể quý vậy.
.......
-
Nguyên văn: Về phần hóa Thương thành Tài, thì càng làm tú khí. Như mệnh La Trạng nguyên, Giáp Tý/Ất Hợi/Tân Mùi/Mậu Tý, can đầu là Giáp thông căn ở Hợi, nhưng lại vừa hội Mùi thành cục, hóa thủy thành mộc, hóa sinh Tài, rất là có tình, cho nên Thương sinh Tài thì Đông kim không quý, bởi vì nước bị đóng băng thì không thể sinh cho mộc. Nếu là hóa mộc, chẳng những hướng về sinh, được yên ổn thì không là cung điện lớn ư?
Từ chú: Tam hợp là Sinh Vượng Mộ cùng hợp cục, lấy Tý Ngọ Mão Dậu bốn hướng chính làm trung tâm, không phải bốn hướng chính thì hội không thành cục. Đinh vốn là Ngọ, Quý vốn là Tý, Ất vốn là Mão, Tân vốn là Dậu vậy. (Xem thuyết Tam mệnh tiêu tức phú của Lạc Lộc Tử, Đàm Oánh chú). Mệnh của La Trạng nguyên, Hợi Mùi hội cục mà thấu Ất, Thương hóa thành Tài, cách cục chuyển thanh, mà mộc vẫn được Tý thủy sinh. Thực thương là gốc của Tài, do đó dụng Tài thì hỉ có Thực Thương sinh cho, dụng Thực thương cũng hỉ Tài để khí thế lưu hành vậy. Đông kim không quý, là lấy kim hàn thủy lạnh, mọi vật không thể nảy sinh, hỉ có Mùi tàng Đinh hỏa, hội Hợi hóa mộc, tuy ở mùa đông lạnh nhưng được sưởi ấm mà sinh sôi vạn vật, sao không có quý ư?
Nguyên văn: Về phần Tài Thương có tình, cùng hóa Thương thành Tài, là tương xứng tú khí, như mệnh của Tần Long Đồ, Kỷ Mão/Đinh Sửu/Bính Dần/Canh Dần, Kỷ cùng Canh đều có căn ở nguyệt lệnh vậy.
Từ chú: Cách cục có cao thấp đều ở thanh hay trọc. Cũng có khi trong thanh mà chuyển sang trọc, hoặc trong trọc mà chuyển sang thanh vậy. Như lấy cách cục để luận, sao có cách không quý, hoặc có cách không tiện? Yêu cầu là không thể luận như nhau vậy.
Mệnh họ Tần, Kỷ cùng Canh đồng căn ở nguyệt lệnh đều thấu xuất, là ở chỗ chuyển thanh rõ ràng, cũng là điểm tú khí vậy.
Nguyên văn: Có Thương Quan bội Ấn, Ấn có thể chế Thương, cho nên thành quý, trái lại cần Thương quan vượng, thân hơi yếu, mới là tú khí. Như mệnh Bình Chương, Nhâm Thân/Bính Ngọ/Giáp Ngọ/Nhâm Thân, Thương quan vượng , Ấn căn thâm, thân lại nhược, vừa là Hạ mộc mà gặp nhuận, kỳ tú khí gấp trăm lần, cho nên mệnh quý bậc nhất. Nhưng Ấn vượng quá nặng, không nên thấy nhiều, thiên chính trùng điệp đều xuất ra, trái lại thành không tú, cho nên Thương khinh, thân trọng mà Ấn thụ lại nhiều, là cách bần cùng vậy.
Từ chú: Thông thường muốn bội Ấn, nhất định là thân nhược. Thương vượng mà thân nhược là tiết khí thái quá, thì dụng Ấn chế Thương mà sinh thân, cả 2 được dụng. Như mệnh của Bình Chương, mộc nhược hỏa vượng, được thủy sinh chế hỏa để sinh mộc là đắc lực. Về phần mộc hỏa Thương quan, sinh ở mùa Hạ, tức thân vượng thì cũng cần đường gặp thủy để nhuận, vốn là ngaoị lệ làm điều hòa khí hậu. Không chỉ mộc hỏa muốn điều hậu, hỏa thổ cũng vậy. Như tôi mệnh huyện lệnh, Quý Dậu/Kỉ Mùi/Bính Ngọ/Quý Tị, hỏa viêm thổ táo, nhất định cần thủy để nhuận, vốn là Thương quan dụng Quan, chế Kiếp để hộ Tài, cũng tức là ý điều hậu vậy. Về phần thiên chính cùng lộ ra, lại sợ không thanh, bởi vì cần mà dùng, cũng không có sợ, nhưng quá nhiều thì thành bệnh vậy. Thân vượng nhất định không cần Ấn sinh cho, Thương nhẹ thì kỵ Ấn thụ khắc chế. Nếu tứ trụ có Ấn mà không có Tài, là có bệnh mà không có dược, cho nên là mệnh bần cùng vậy.
.........
-
Nguyên văn: Có Thương quan bao gồm dụng Tài và Ấn, Tài và Ấn tương khắc, vốn không thể dụng chung, chỉ cần can đầu lưỡng thanh mà không gây trở ngại lẫn nhau; lại nhất định sinh Tài, Tài thái vượng mà mang Ấn, bội Ấn là Ấn quá nặng mà lại mang Tài, là điều hòa để lưu lại trung hòa, cho nên là mệnh quý. Như Đinh Dậu/Kỉ Dậu/Mậu Tý/Nhâm Tý, Tài quá nặng mà mang Ấn, Đinh cùng Nhâm ngăn cách bởi Mậu Kỷ, cả 2 đều không gây trở ngại, mà kim thủy nhiều và cảm thấy hàn lạnh, được hỏa dung hòa là mệnh của Đô Thống chế vậy. Lại như Nhâm Tuất/Kỉ Dậu/Mậu Ngọ/Đinh Tỵ, Ấn thái trọng và Mậu Kỷ ngăn cách nên Đinh cùng Nhâm không gây trở ngại, là mệnh của Nhất Thừa tướng vậy. Ngược lại đúng thì Tài Ấn không cùng dùng mà không tú vậy.
Từ chú: Thương quan bao gồm dụng Tài Ấn, thực ra là không phải kiêm dùng vậy, chỗ này cùng là Tài cách dụng Ấn hoặc Ấn cách mà dụng Tài là giống nhau. Mệnh đầu tiên Đinh Dậu, tuy không phải là thổ kim Thương quan, mà thực chất là Tài đa thân nhược, dụng Ấn để bồi bổ cho nhật nguyên, dụng thần ở Ấn, cho nên đến hành vận Bính Ngọ, Đinh Mùi là Ấn địa mà đại phát. Còn mệnh Nhâm Tuất, hỏa vượng thổ cháy khét, dụng Tài để tổn Ấn, dụng thần là ở Tài, cho nên vận hành Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu là đất của Tài địa mà đại phát. Bề ngoài, tuy không phải là thổ kim Thương quan cách cục, mà thực chất là Nguyệt lệnh Thương quan, bất quá là gốc của Tài mà thôi. Nhưng mà Tài Ấn đã cùng thấu can đầu, thì lấy không làm trở ngại lẫn nhau là điều kiện quan trọng đầu tiên, nếu không, Ấn vượng có thể lấy dụng Tài, Tài vượng chỉ có thể dụng Kiếp mà không thể dụng Ấn. Tượng Tài Ấn tương chiến. Cách cục không thanh, tức là hành vận tốt cũng không cho là tốt. Ở đây vị trí thứ tự cũng không thể không chú ý vậy (Xem lại tiết luận Tài, luận Ấn).
Nguyên văn: Có Thương quan dụng Sát Ấn. Thương nhiều thì thân nhược, nhờ có Sát sinh Ấn, Ấn sinh trợ thân mà chế Thương. Như Kỉ Mùi/Bính Tý/Canh Tý/Bính Tý, là mệnh của Thái Quý Phi vậy. Sát gặp Thương là có chế, lưỡng đắc kỳ nghi ( cả 2 đều phù hợp), chỉ cần không có Tài tinh, tiện sẽ thành quý cách. Như Nhâm Dần/Đinh Mùi/Bính Dần là mệnh của Hạ Các lão vậy.
Từ chú: Thương quan dụng Sát Ấn, dụng thần tại Ấn vậy, cho nên chỉ cần không có Tài là tiện sẽ thành quý cách. Như mệnh của Thái Quý Phi, Canh kim không có căn gốc, 3 Tý tiết khí, chế Thương để phù trợ thân là đều nhờ ở Ấn. Ấn nhờ Sát sinh cho, mà đông lệnh là Kim thủy Thương quan, kiêm nhờ Bính hỏa điều hòa ấm cục nên cục quý (mệnh này có ở “Thần Phong thông khảo”). Mệnh của Hạ Các lão, Bính hỏa tuy không nhược, mà hỏa thổ Thương quan, sinh ở mùa hè, nhờ có thủy nhuận trạch, cho nên hành vận Bắc phương thủy địa mà càng quý. Dụng thần tuy tại Ấn, mà chỗ mùa Xuân tốt là nhờ ở điều hậu, nếu có Ấn mà không có Sát là cục bần tiện vậy.
......
-
Nguyên văn: Có Thương quan mà dụng Quan, cách khác là không thể dùng. Kim thủy thích hợp đơn độc, nhưng cần có Tài Ấn phụ trợ, không thể có Thương Quan cùng thấu. Như Mậu Thân/Giáp Tý/Canh Ngọ/Đinh Sửu, Quý tàng Đinh lộ, Mậu Giáp là phù trợ, Quan lại đắc lộc, cho nên là cách của một Thừa tướng. Nếu chỉ có một Quan mà không có phụ trợ, hoặc Quan Thương đều thấu thì phát phúc không lớn vậy.
Từ chú: Thương quan dụng Quan, không phải kim thủy chỉ có một, chỉ có Đông kim, Hạ mộc là quý nhất mà thôi ( Xem lại phần Thương quan dụng Tài). Lấy Quan không dùng, thân vượng lấy Tài làm phụ trợ, thân nhược thì lấy Ấn phụ trợ, nhưng cũng cần ở vị trí phối hợp. Như mệnh trên nhật nguyên Canh kim có lộc ở Thân mà được Ấn sinh, Quan tinh Đinh hỏa có lộc ở Ngọ mà được Tài sinh, Thân Tý hội xung , Tý Sửu hợp hóa Ấn, thổ kim thủy mộc hỏa tuần hoàn tương sinh, tuy thân vượng lấy Tài sinh Quan làm dụng, mà hành vận Ấn địa cũng được sinh hóa, chỗ này là hiếm có vậy. Cuối cùng dựa vào thân vượng, vận hành Đông Nam mộc hỏa vượng địa là quý.
Nguyên văn: Nếu Đông kim dụng Quan, mà lại hóa Thương thành Tài, thì càng làm tú khí nên cực quý vậy. Như Bính Thân/Kỉ Hợi/Tân Mùi/Kỉ Hợi, là mệnh của Trịnh Thừa tướng vậy.
Từ chú: Hóa Thương thành Tài, nên lấy Tài mà luận, mà mệnh ở trên có Hợi Mùi củng hợp mà không có Mão, không thể hóa Tài, nguyệt lệnh Nhâm thủy nắm lệnh, vẫn lấy kim thủy Thương quan để luận. Tân kim tọa ở Mùi, lại thấu 2 Kỷ, Bính hỏa Quan tinh, khí tiết ở Ấn thụ, lấy Hợi Mùi là ám hợp Tài làm tổn Ấn để sinh Quan làm dụng. Đến vận Dần Mão Giáp Ất, Tài tinh thấu thanh, kế tiếp hành Nam phương Quan tinh đắc địa, nên thành mệnh rất thanh tú mà cực quý vậy.
Nguyên văn: Song, cũng có khi không phải kim thủy mà gặp Quan là sao? Hóa Thương thành Tài, hại mà không phải hại, lấy Tài vượng sinh Quan, mà không lấy Thương quan gặp Quan, như Giáp Tý/Nhâm Thân/Kỉ Hợi/Tân Mùi, là mệnh của Chương Thừa tướng vậy.
Từ chú: Thương quan dụng Quan, không chỉ kim thủy hóa Thương thành Tài lấy Tài luận, mệnh trên Thân Tý hội cục, hóa Thương thành Tài để sinh Giáp mộc, cũng lấy Nhật nguyên Kỷ thổ thông căn ở Mùi, thân vượng nên gánh được Tài Quan, cho nên thành quý cách vậy.
(Lâm chú: Tạo này Kỷ thổ không có nguyên thần, Hợi Mùi củng mộc, khắc tiết cùng gặp, nên phù hợp luậno Tòng cách. Mệnh này sở dĩ là quý cách vì theo Tài sinh Quan vậy.)
Nguyên văn: Về phần Thương quan và Quan Sát cùng thấu, chỉ cần can đầu lấy thanh, được kim thủy cũng thanh, nếu không thì không có cấu thành vậy.
Từ chú: Kim thủy Thương quan thì lại hỉ gặp Quan tinh, thủ lấy điều hòa khí hậu, không phải nhất định lấy Quan tinh làm dụng. Đã không là dụng, thì Quan Sát cùng thấu sao lại trở ngại? Phép thủ thanh, hoặc chế hoặc hợp, khiến cho cách cục không hỗn tạp mà thôi. Dụng Quan thì nhất định lấy Tài và Ấn phụ trợ, Xem lại tiết ở trên dụng Quan.
-
Chương 42. Luận Thương quan thủ vận
Nguyên văn: Thương quan thủ vận, tức lấy Thương quan chỗ thành cục rồi phân ra mà phối hợp. Thương quan dụng Tài, Tài vượng thân nhẹ, thì lợi ở Ấn Tỉ. Thân cường Tài nhẹ, thì hỉ Tài vận, Thương quan vận cũng tốt.
Từ chú: Trong bát cách, thì cách Thương quan là biến hóa nhiều nhất, thủ vận cũng nhiều biến hóa ( Xem lại Tiết Phối khí hậu được mất). Thương Quan cùng Thực thần là giống nhau vậy. Thương quan sinh Tài, là chính cách vậy. Lấy thân khinh, trọng, xu hướng là khác nhau.
Như mệnh của Sử Xuân Phương:
T.Tài Kiếp Nhật chủ Thực
Nhâm Ngọ Kỷ Dậu Mậu Ngọ Canh Thân
Đinh,Kỷ Tân Đinh,Kỷ Canh,Mậu,Nhâm
Ấn,Kiếp Thương quan Ấn,Kiếp Thực,Tỉ,T.Tài
Đế vượng Tử Đế vượng Bệnh
Đại vận: Canh Tuất/Tân Hợi/Nhâm Tý/Quý Sửu/Giáp Dần/Ất Mão
Giờ Canh Thân gặp ngày Mậu Ngọ, cũng là chuyên lộc cách vậy ( Xem Thực cách, mệnh của Tạ Các lão), mà Nhật nguyên tọa Ấn, Kỷ thổ thấu can, cũng có thể luận Nhận cách, so với mệnh họ Tạ càng cường. Nhâm thủy là Tài, tuy được trường sinh ở Thân, mà cách ly quá xa. Vận hỉ Thực thương Tài địa, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu 30 năm liền, hoa tròn gấm đống, quả thật là không dễ gặp. Đúng là dấu hiệu thân cường, Tài nhẹ, vận hỉ Tài địa, Thương quan cũng cần vậy.
C.Tài T.Tài Nhật chủ Ấn
Giáp Tý Ất Hợi Tân Mùi Mậu Tý
Quý Nhâm,Giáp Kỷ,Đinh,Ất Quý
Thực Thương,Tài Kiêu,Sát,T.Tài Thực
Trường sinh Mộc dục Suy Trường sinh
Đại vận: Bính Tý/Đinh Sửu/Mậu Dần/Kỉ Mão/Canh Thìn/Tân Tị
Đây là mệnh của La Trạng nguyên. Kim thủy Thương quan, vốn là hỉ kiến Quan, mệnh này sinh ở tháng Hợi là rất ít khí dương, Mùi trong tàng chứa hỏa không lo lắng khí hàn lạnh, Hợi Mùi củng hợp, thấu ra Ất mộc, thì Thương quan hóa thành Tài vậy. Trụ năm và trụ giờ có 2 Tý, vẫn là Thực thần sinh Tài cục, duy chỉ có nhật nguyên quá yếu, vận hỉ Ấn Tỉ bang thân. Vận Canh Thìn Tân, 15 năm là những năm tốt nhất; Mậu Dần, Kỷ Mão, 20 năm rút cuộc là Tài vượng, thân nhược . Lại còn là cục kim thủy, vốn là hỉ có hỏa sưởi ấm, trước mắt tuy nguyên cục không thấy Quan tinh, mà vận hành Đông Nam là vùng đất làm ấm mệnh, khí ấm áp, có thể lấy bỗ trợ cho kỷ không đủ. Nói đến vận thì nhất định phải nghiên cứu hợp lại cùng với nơi ở.
...........
-
Thương Kiếp Nhật chủ T.Tài
Kỷ Mão Đinh Sửu Bính Dần Canh Dần
Ất Kỷ,Quý,Tân Giáp,Bính,Mậu Giáp,Bính,Mậu
Ấn Thương,Quan,Tài Kiêu,Tỉ,Thực Kiêu,Tỉ,Thực
Mộc dục Dưỡng Trường sinh Trường sinh
Đại vận: Bính Tý/Ất Hợi/Giáp Tuất/Quý Dậu/Nhâm Thân/Tân Mùi
Mệnh này cũng là Thương quan sinh Tài cách, thân vượng Tài nhẹ, cùng mệnh trên thì trái ngược. Sửu là kim khố, Kỷ Canh cùng thấu, là Tài Thương có tình vậy. Dậu Thân Tân ba vận là tốt nhất. Vận Nhâm Quý là Thương quan kiến Quan, dù vậy thân vượng cũng không là kỵ, rút cuộc cũng không là vận tốt. Tài là hỉ nhất, mà Thực Thương thì có phân biệt, Mậu Tuất Mùi là táo thổ, không bằng Kỷ Sửu Thìn là thấp thổ, lấy thấp thổ có thể tiết khí hỏa mà sinh kim vậy.
......
-
Nguyên văn: Thương quan bội Ấn, cần vận hành Quan Sát, Ấn vận cũng tốt, Thương Thực không sợ, Tài địa thì hung.
Từ chú: Thương quan bội Ấn, Một là do nhật nguyên nhược, Thương quan tiết khí quá nặng, lấy chế Thương phù thân mà dụng Ấn; Hai là mùa Hạ mà thủy gặp hỏa, thân cường không nhược, mà hỏa vượng mộc khô, nhất định cần có thủy để nhuận trạch. Là bởi vì điều hòa khí hậu mà dụng Ấn vậy.
Thiên Ấn Thực Nhật chủ Thiên Ấn
Nhâm Thân Bính Ngọ Giáp Ngọ Nhâm Thân
Canh,Mậu,Nhâm Đinh,Kỷ Đinh,Kỷ Canh,Mậu,Nhâm
Sát,T.Tài,Kiêu Thương,Tài Thương,Tài Sát,T.Tài,Kiêu
Tuyệt Tử Tử Tuyệt
Đại vận: Đinh Mùi/Mậu Thân/Kỉ Dậu/Canh Tuất/Tân Hợi/Nhâm Tý
Mệnh của La Bình Chương, kiêm chế Thương phù thân cùng điều hòa khí hậu dụng cả hai, được lực gấp bội. Thân Dậu Canh Tân trái lại là tốt, lấy kỳ Ấn sinh vậy. Vận Mậu Kỷ là hung, may mắn là Tây phương ở đất Thân Dậu, nguyên cục có Thiên Ấn lại vượng, trên không trở ngại lớn, mà Tuất vận nhất định là không tốt vậy. Thực Thương hỏa vận, có Nhâm thủy hồi khắc nên không sợ.
.......
-
Nguyên văn: Thương quan mà kiêm dụng Tài Ấn, tức là Tài nhiều mà mang Ấn thì vận hỉ trợ Ấn, Ấn nhiều mà mang Tài thì, vận hỉ trợ Tài.
Từ chú: Thương quan mà kiêm dụng Tài Ấn, tức là Tài cách mà dụng Ấn, hoặc Ấn cách mà dụng Tài vậy. Tuy nguyệt lệnh là Thương quan, mà khí Thương quan để tiết cho Tài, cho nên mấu chốt là ở Tài mà không ở Thương vậy. Tài Ấn không thể dùng chung được, nhưng can đầu lưỡng thanh, cũng có thể thủ dụng ( Xem tiết Tài cách dụng Ấn). Lại hoặc có Tài Ấn một ở can và một ở chi, cả hai đều không gây trở ngại nhau, cũng lấy thanh mà luận. Như hai mệnh sau:
Ấn Kiếp Nhật chủ T.Tài
Đinh Dậu Kỷ Dậu Mậu Tý Nhâm Tý
Tân Tân Quý Quý
Thương Thương Tài Tài
Tử Tử Thai Thai
Đại vận: Mậu Thân/Đinh Mùi/Bính Ngọ/Ất Tị/Giáp Thìn/Quý Mão
Nhất, mệnh của Đô Thống chế, Tài đa thân nhược, hỉ Tài Ấn không gây trở ngại lẫn nhau ( Xem lại tiết luận Thương quan), là Tài vượng dụng Ấn phù thân, kiêm lấy điều hậu. Vận hành Đinh Mùi, Bính Ngọ, Ấn địa cho nên tốt; Ất Tị, Giáp Thìn, vận Quan Sát cũng tốt là do Quan Sát sinh Ấn, cùng thông với khí Tài Ấn vậy.
T.Tài Kiếp Nhật chủ Ấn
Nhâm Tuất Kỷ Dậu Mậu Ngọ Đinh Tị
Mậu,Tân,Đinh Tân Đinh,Kỷ Bính,Mậu,Canh
Tỉ,Thương,Ấn Thương Ấn,Kiếp Kiêu,Tỉ,Thực
Mộ Tử Đế vượng Lộc
Đại vận: Canh Tuất/Tân Hợi/Nhâm Tý/Quý Sửu/Giáp Dần/Ất Mão
Nhị, Mệnh của 1 Thừa tướng, là Ấn nhiều mà dụng Tài ( Xem tiết luận Ấn) . Hỉ được Đinh Nhâm không hợp, dụng Tài tổn Ấn, dụng thần ở Tài, vận hành Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu Tài địa là tốt nhất; Giáp Dần, Ất Mão, Quan Sát vận không tốt, là do Quan Sát tiết khí Tài mà sinh Ấn vậy.
.....
-
Nguyên văn: Thương quan mà dụng Sát Ấn, Ấn vận là tốt nhất, Thực Thương cũng hanh thông, hỗn tạp Quan là không tốt, gặp Tài thì nguy.
Từ chú: Thương quan kiêm thấu Sát Ấn, cũng có phân biệt thân cường nhược, thân nhược dụng Ấn phù thân, như mệnh Hạ Quý phi:
Ấn Sát Nhật chủ Sát
Kỷ Mùi Bính Tý Canh Tý Bính Tý
Kỷ,Đinh,Ất Quý Quý Quý
Ấn,Quan,Tài Thương Thương Thương
Quan đái Tử Tử Tử
Đại vận: Ất Hợi/Giáp Tuất/Quý Dậu/Nhâm Thân/Tân Mùi/Canh Ngọ
Canh kim khí bị tiết mà nhược, dụng Ấn chế Thương phù thân. Tháng 11 là kim thủy Thương quan, khí đủ hàn lạnh, dụng hỏa điều hậu. Tức ý là kim thủy Thương quan hỉ kiến Quan, kiêm lấy Ấn cùng vậy. Can năm Ấn thụ đắc dụng, mà thiếu niên cô khổ vô cùng; Giáp hợp Kỷ thổ, Tài hóa thành Ấn thụ, Tuất vận Ấn địa, cho nên chỗ này có 10 năm liền rất tốt. Quý Nhâm Thực Thương vận, có Ấn hồi khắc không sợ. Vận Thân Dậu trợ thân, bản thân cũng khả hành. Hỗn tạp Quan tinh có Ấn hóa, phương cũng vô ngại, gặp Tài phá Ấn thì thân nhất định gặp nguy vậy.
.........