Tên đăng nhập:
Bạn đã có tài khoản chưa?
Quên mật khẩu?
  • Đăng nhập / Ghi danh

    Trang 3/12 đầuđầu 12345 ... cuốicuối
    kết quả từ 21 tới 30 trên 119

      Hybrid View

      1. #1
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        758
        Cảm ơn
        245
        Được cảm ơn: 2,921 lần
        trong 596 bài viết

        Default TUYỂN TRẠCH CẦU CHÂN - Quyển 2

        Tuyển Trạch Cầu Chân


        Quyển 2 :
        SÁCH CHỌN NGÀY GIỜ DỰNG NHÀ –
        CHÔN NGƯỜI CHẾT , NAM NỮ HỢP HÔN


        * * *

        BÀN VỀ BỔ LONG
        .

        ( Làm nhà , để mộ như nhau )
        Khâu bình Phủ nói : “ Trước hết xem gió nước để quyết định dấu vết , sau xem năm , tháng nên đồng nhau , cát , hung hợp lý xen lẽ huyền diệu , nên quay tới Sơn đầu tìm vượng Long .”

        Phàm vào làng nào mà thấy Sao , Ngọn núi lạ lung khác hẳn , Long Thần tốt đẹp trội hẳn lên , làng ấy giàu sang không nghi ngờ gì . Làng nào mà thấy sườn núi quanh co rối loạn , Long Thần thấp yếu , làng ấy nghèo hèn không nghi ngờ gì . Gốc họa phúc đều thuộc về Long , chọn ngày mà không bổ Long , thì hà tất chọn . Biết thuyết bổ Long , thì đã nắm được cái then chốt huyền bí của đạo ấy .

        ( Sách có nói : “Phú Long nên tìm phú niên , nguyệt . Quý Long thì tìm quý kỳ quý cách . Tìm Sơn gia biết được chân phú quý , nên kén phú quý cả hai tình tin thực ” ; cho nên người xưa đều lấy bổ Long làm trọng ) .
        Phàm Long ở xa không bàn , chỉ đơn độc lấy mạch tới huyệt là chủ , lấy chính lý ngũ hành bàn sinh khắc , Tứ Trụ Bát tự sinh giúp vào thì cát , khắc tiết thì hung .
        ( Tịch mậu nói : Long thì có Long vào đằng đầu , có Long ở chính thần : Long vào đàng đầu , là chí khí tới đằng đầu một tiết nhỏ . Long chính thân , hoặc quanh bên tả , quanh bên hữu , mà tiết ấy nhiều ; hoặc cao , thấp , dầy , mập , mà tiết ấy dài , nên bảo rằng Long đi thập đại mới thành Long vậy . Bổ Long vào đàng đầu , phát phúc chóng , bổ Long chính thân , phát phúc chậm mà được khá lâu . Nhưng bổ Long chính thân chỉ bàn thế lớn , như Long Càn Hợi , Nhâm tí , đều đến bản vị để phân ngũ hành , mà mưu toan chọn để bổ . Bổ Long vào đằng đầu thì lấy bình phân 60 mà xét khí thuộc Giáp tí nào , cho nên người xưa có dùng Tứ trụ nạp âm , để bổ Long nạp âm . Như Trường Trưởng lão làm cho Hoàng thị ở Uyển cương , Phong thành khóa táng đó . Xét bổ Long thân ấy là vu khoát xa xôi . Bổ Long vào đằng đầu tất lấy bình phân 60 là câu nệ vậy . Người xưa dù có dùng , mà xét lấy mạch vào đằng đầu xem 24 phương vị , nắm được ngũ hành là chánh tong ) .
        Không cần hỏi Âm trạch Dương trạch , đến chỗ kết huyệt , tất có một dây mạch nhỏ , tử tế mà xét định , tức lấy La Kinh xét cho đúng ngôi chữ gì , nếu thuộc Mộc thì dùng cục Hợi Mão Mùi , thuộc Kim thì dùng cục Tỵ Dậu Sửu , thuộc Hỏa thì dùng cục Dần Ngọ Tuất , thuộc Thủy thì dùng cục Thân Tí Thìn , đó là cục vượng vậy . Hoặc dùng cục Ấn mà Sinh ( như Hỏa long dùng cục Mộc , Mộc Long dùng cục Thủy , Thủy long dùng cục Kim ..v…v…) cũng được . Nhưng Long hùng mà đới sát , nên dùng cục Tài ( như Hỏa long thì dùng cục Kim …v…v…) . Nếu trong hang núi đất âm u , trội lên mở ra cái lỗ trũng , gần huyệt chỉ có vòng tròn không mạch nhỏ , vòng tròn nếu rộng không phải là mạch . Nên ở sau núi , chỗ thắt đáy lưng ong , xét mà bổ vào . Phàm chỗ Tỉnh Thành Quận Huyện , phải hướng Ngọ thì hướng Bính Đinh . Hướng Ngọ tất Long Nhâm tí ; hướng bính đinh tất long hợi cấn đều lấy cục Thân Tí Thìn , nhưng mạch chính đã kết vào Nha Thự ( nơi công sở các quan ) . Dân cư hoặc đông , hoặc tây , đều là trên mạch chia ra từng chi mà tới ngang , chẳng biết thuộc ngũ hành nào , chỉ lấy bổ Toa sơn là chủ . Từ đây trở ra ngoài đều bổ mạch , mà chỗ đất âm u càng khẩn yếu , vì táng là nhân một sợi dây sinh khí . Khí Long suy hay vượng , hoàn toàn xem Nguyệt lệnh ( lấy chính lệnh đã chép để làm trong 12 tháng ) . Cho nên bổ Long tất ở tháng tam hợp , hoặc tháng Lâm quan , thì tháng Mộ cũng là tháng vượng , không phải là lệ suy , bệnh vậy . Vì cung Sửu có Tân Kim , cung Thìn có Quý Thủy , cung Mùi có Ất Mộc , cung Tuất có Đinh Hỏa , cố nhiên biết 4 cung ; Mộ là vượng chứ không phải là suy , cho nên phải dùng cục tam hợp .
        Phàm bổ Long hoàn toàn ở Tứ Trụ địa chi , vì thiên can khí nhẹ , địa chi sức nặng . Cũng có khi lấy Thiên nguyên nhất Khí mà bổ , như Giáp Long dùng 4 Giáp ; cũng có khi lấy Địa nguyên nhất Khí mà bổ , như Mão Long dùng loại 4 Mão , thì rất thần diệu , nhưng khí được nhiều , hơn 10 năm mới gặp một lần , mà lại hoặc Nguyệt gia Nhật gia Sơn hướng đều không hợp , thì có thể làm gượng được ru ! Không bằng cục Tam hợp hoạt động dễ lấy . Cục Tam hợp chỉ cốt ở trong tháng Tam hợp , tháng Sinh , tháng Vượng , tháng Mộ đều được . Nếu trong 3 tháng ấy có hung thần chiếm phương , thì tháng Lâm qiuan cũng khá gọi là cục tam hợp kiêm Lâm quan Dịa chi nhất khí . Hoặc là Tứ Sinh , Tứ Vượng thì không nên , dùng chữ Tứ Mộ Tam Hợp bất tất tất hoàn toàn 2 chữ cũng được ( như cục Thủy dùng Thân Tí hai chữ , hoặc Thân Thìn 2 chữ đều là Họi Cục ) 12 Long tính âm , nên dùng âm khóa , 12 Long tính dương , nên dùng dương khóa , Dương công có câu : “ cốt yếu âm dương không lẫn lộn ”, là thế đó . Nhưng Long Ngũ hành đều có Dương , có âm , mà cục Hợi Mão Mùi , Tỵ Dậu Sửu , đều là Âm cả ; cục Thân Tí Thìn , Dần Ngọ Tuất , đều lại là Dương cả . Cho nên khóa cũ cũng không câu nệ lắm về thuyết Âm Dương .
        Người xưa Tạo táng tám chữ , phần nhiều lấy Địa chi bổ Long , lấy Thiên can bổ chủ mệnh , hoặc cùng với Mệnh Tỷ Kiên nhất khí , hoặc hợp Tài , hoặc hợp Quan , hoặc hợp Lộc Mã Quý nhân ; lại hoặc Thiên Can hợp Mệnh , mà Lộc Mã Quý Nhân tới Sơn . Địa chi lại bổ Long mạch , thì là thượng thượng cục của Bát Tự vậy . Một bọn nhà sư đời Đường , Thác trưởng Lão đời Tống , đều lấy Tứ Trụ nạp âm để bổ Long bản mộ nạp âm , cũng rất ứng ứng nghiệm , nhưng không bằng sức của Địa chi . Lại có thể bàn về nạp âm , thì phép ấy là không bàn nạp âm của bản Long , mà ở Mộ thượng của Long khởi Nạp Âm để bàn Sinh Khắc , như năm Canh Dần làm Tuất Sơn ,Tuất Long . Chính Ngũ hành thuộc Thổ thủy thổ mộ . Năm Thìn cụng dùng Ngũ hổ độn đến Thìn , là Canh Thìn , Kim âm Bát Tự , nên lấy Kim âm , Thổ âm thì cát , Hỏa âm thì khắc Long mộ , là hung . Đây vốn là Hồng phạm chuyển vận , mà người bàn cùng với ý của một bọn nhà sư và Thác Trưởng Lão có khác , cũng nên tham khảo để xem thêm .

        Phàm lấy cục Tam Hợp bổ Thủy Long ; cục Mộc Tam hợp bổ Mộc Long là cục vượng . Thượng cát là lấy Tam hợp cục Kim sinh Thủy Long , Tam hợp cục Thủy sinh Mộc Long là cục Tướng , lại là cục Ấn thụ . Cát thứ là : Thủy Long dùng Tam hợp cục Thủy là cục Tài , nhưng Long Hùng đới có Sát , bất tất lại bổ nữa , thì dùng Tam hợp cục Tài , không bổ cũng không tiết lậu .
        ------------------------------------------

        thay đổi nội dung bởi: AnhNgoc, 20-10-09 lúc 14:26
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      2. Có 11 Hội viên đã cảm ơn đến "AnhNgoc" về bài viết có ích này:

        cuongbao (20-10-09),dtkien (20-01-13),hoa loc (21-10-09),htruongdinh (16-10-09),Kloan (23-10-09),leostar79 (28-01-16),maile (13-06-10),sonthuy (16-10-09),thucnguyen (02-11-09),tom (18-01-10),vanti67 (24-07-13)

      3. #2
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        758
        Cảm ơn
        245
        Được cảm ơn: 2,921 lần
        trong 596 bài viết

        Default

        KHÓA XƯA VỀ BỔ LONG

        ( Đều bàn cả về chính ngũ hành )

        Bốn Long : Hợi , Nhâm , Tí , Quý đều thuộc Thủy thì sinh : Thân , Vượng : Tí , Mộ : Thìn , là Tam hợp cục Vượng : Thượng cát . Lâm quan ở Hợi : Cát . Tỵ Dậu Sửu là cục Ấn : cũng cát . Cục Dần Ngọ Tuất là cục Tài : cát hạng nhì . Hợi Mão Mùi là Tiết cục : hung .Thìn Tuất Sửu Mùi là cục Quỷ sát : càng hung . Nếu được các Can Nhâm , Quý , Canh , Tân : càng tốt , nhưng khó mà lấy hết được .

        1) Hợi Long làm Càn Sơn Tốn Hướng : Tăng văn Sơn dùng năm Nhâm Dần , tháng , ngày , giờ cũng đều Nhâm Dần cả : về sau 8 con đều làm quan ở trong triều . Vốn mệnh người mất là Đinh Hợi , lấy Đinh cùng hợp với Nhâm , lấy Đinh mệnh quan làm Hợp qiuan cách . Lại 4 điểm Nhâm , Lộc tới Hợi Long Hợi Mệnh ( xét Càn Hợi cùng cung , Quan lộc cũng tới Càn Sơn ) , thì 4 chi Dần cùng hợp với Hợi Long Hợi Mệnh , tốt lắm ; 4 Nhâm Thủy lại bổ Hợi long : khóa thượng thượng cát . Lại có kẻ dùng năm Quý Hợi , tháng Giáp Tí , ngày Nhâm Thân , giờ Ất Hợi . Sau phát đỗ to quý hiển .- Đây là lấy cục Thân Tí bổ Hợi long , mà dùng 2 Hợi làm Lâm quan .

        2) Hợi Long làm Nhâm sơn , Bính hướng : Dương công lấy năm Tân Hợi , tháng Canh Tí , ngày Bính Thân , giờ Bính Thân .- Đời sau làm đến Tể Tướng . Đấy là lấy cục Thủy Thân Tí Hợi bổ Hợi Long , cục Tam hợp kiêm Lâm quan .

        3) Nhâm Long làm Tí sơn , Ngọ hướng : Dương Công dùng năm Quý Hợi , tháng Quý Hợi , ngày , giờ đều Quý Hợi . Đời sau nhiều người hiễn Quý , vì Tứ Hợi là Nhâm long Lộc địa , lại tứ quý Lộc tới Tí sơn , gọi là “ Tụ Lộc ” cách , Lại gọi là Lâm Quan cách , lại là Thiên Địa đồng lưu cách : tốt lắm .Chủ mệnh không Mậu thì Quý , hoặc Tí mệnh , đều tốt . Dương Công lại lấy năm Nhâm Thân , tháng Mậu Thân , ngày Nhâm Thân , giờ Mậu Thân , táng người chết tuổi Đinh Tỵ . Đời sau đại quý .- Đấy lấy Nhâm long , 4 Trường Sinh ở Thân cả : lại hai Can không lẫn với Địa chi nhất khí , mệnh Đinh cùng với Nhâm là Hợp Quan , Nhâm Quý nhân cùng với Mậu Lộc tới mệnh Tỵ , lại Tỵ cùng hợp với Thân . Những người sinh năm Dần đều chết non , vì tứ Thân xung vậy .

        4) Tí Long làm Cấn sơn , Khôn hướng : Tăng công lầy năm Quý Tỵ , tháng Đinh Tỵ , ngày Quý Dậu , giờ Quý Sửu , đời sau quý hiễn . Đây là nhân Cấn sơn thuộc hổ , hay khắc Thủy Tí long , cho nên không dùng cục Thân TÍ Thìn , mà dùng Kim cục Tỵ Dậu Sửu , là lấy Thủy Tí long mà tiết Thổ khí của Cấn sơn . Lại 3 điểm Quý Lộc tới Tý long , trọng Long chứ không trọng Sơn . Chủ mệnh không Mậu thì Quý , hoặc Mệnh Mậu Tí : càng tốt .

        5) Sáu Long Cấn , Khôn , Thìn , Tuất , sửu , Mùi đều thuộc Thổ , cũng do Thân : vượng ; Tí mộ : Thìn , Lâm quan ở Hợi ( Thủy Thổ cùng cung ) , lấy Thân , Tí , Thìn làm cục vượng , cũng là Thổ khắc Thủy , là cục Tài : Thượng cát . Lấy cục Dần Ngọ Tuất , làm cục Ấn cũng cát . Tỵ Dâu Sửu làm cục Kim tiết , cục Hợi Mão Mùi : Sát , đều hung . Mừng được hang can Bính Đinh Mậu Kỷ , nhưng khó lấy được hết .

        6) Cấn Long làm Nhâm Sơn , Bính Hướng .- Dương Công lấy năm Tân Hợi , tháng Canh Tí , ngày Bính Thân , giờ Bính Thân : lại quý .- Liễu Kim Tinh lấy năm Canh Thân , tháng Mậu Tí , ngày Canh Thân , giờ Canh Thìn , là cục Tam hợp .

        7) Cấn Long làm Giáp Sơn Canh Hướng : Dương Công lấy năm Bính Thìn , tháng Bính Thân , ngày giờ đều Bính Thân . Đời sau phát quý lâu dài . Đây không những cục Thân , Thìn , mà 4 Bính Hỏa sinh Cấn Thổ , lại cung Cấn nạp Bính chủ mệnh . Chẳng phải Bính sinh thì Tân sinh vậy . Hoặc mênh Tân Kỷ , thì 4 Bính Lộc tới Kỷ : càng tốt .

        8) Cấn Long làm QUý Son , Đinh Hướng : Dương Công lấy năm , tháng, ngày , giờ đều Bính Thân , 500 ngày đỗ cập đệ ( Thám hoa trở lên ) . Có ghi rằng : Cấn Sơn Đinh Hướng thủy chảy phương Mùi , trên phương Đinh có ngọn núi cao vút lên , tháng 7 Bính Thân , giờ Bính Thân , Trời đất hợp cơ huyền diệu ngày 13 lại là ngày Bính Thân , qua ( mặt trời ) thỏ ( mặt trăng ) chia Nam Bắc , 1 vòng 3 năm thì hoạnh tài về , quan văn quan võ mặc áo tía , đó là cách Tứ trụ can chi nhất khí . Cấn Thổ sinh Thân , lại gọi là cách tứ Trường sinh . Lại 4 điểm Bính Hỏa Cấn Thổ , lại Cấn nạp Bính tứ nô : hay lắm ( đây là đất ở Bá Thượng , Trượng bồ Hạ , Bạch thạch Cương ) .

        * Năm Long Dần , Giáp Mão , Ất , Tốn thuộc Mộc , Sinh ở Hợi , vượng ở Mão , Mộ ở Mùi , lấy Hợi Mão Mùi làm cục Vượng : thượng cát , Lâm quan ở Dần , lấy Thân Thìn làm cục Mão : cũng cát . Tỵ DẬu Sửu là cục Sát , Dấn Ngọ Tuất là cục Tiết : đều hung . Mừng được can Nhâm Quý Giáp Ất , nhưng không thể lấy hết .

        + Mão Long làm Giáp sơn Canh hướng : Dương Công lấy năm tháng đều Ất Mão , ngày Bính Dần , giờ Kỷ Mão . Đấy chỉ dùng 2 chữ Lâm Quan Đế Vượng , gọi là cục Quan Vượng .

        + Mão long làm Hợi sơn Tỵ hướng : Quách Công lấy năm , tháng , ngày , giờ đều Tân Mão , táng người chết tuổi Tân Tỵ . Ghi rằng : Tân can Mão ci xung lộc cách , hợp sơn lại bổ mạch , linh cửu mấy năm để trước sân , kén được năm tháng ấy mới an táng . Đời sau đỗ Trạng nguyên làm Tể Tướng , con cháu nhiều vô hạn , mặc áo gấm vinh quy . Sau quả nhiên đổ Trạng Nguyên , hơn 30 người ăn Lộc , nhưng không làm Tể Tướng , đó là ý bao trùm , còn người sinh năm Dậu đều chết non .Lấy 4 Tân giúp mệnh Tân , còn 4 Mão để bổ Mão long , lại hợp tam Hợi sơn , lại xung động Dậu Lộc của mệnh Tân , Mão long ở năm Tân độn ngũ hổ được Tân mão Mộc , lại là nạp âm bổ nạp âm vậy .

        + Mão long làm Ất sơn Tân hướng : Tăng Công lấy năm Canh Dần , tháng Tân Hợi , ngày gờ đều Tân Mão , là cục Tam hợp kiêm Lâm quan . Lại Bố Y lấy năm Giáp Dần , tháng Đinh Mão , ngày Tân Mão , giờ Kỷ Hợi , cũng là cách Tam hợp kiêm Quan .

        + Tốn long làm Ất sơn Tân hướng : Chu Văn Công lấy năm Canh Dần , tháng Mậu Dần , ngày Quý Mão , giờ Giáp Dần , cục Lâm quan Đế vượng .
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      4. Có 9 Hội viên đã cảm ơn đến "AnhNgoc" về bài viết có ích này:

        cuongbao (27-10-09),htruongdinh (26-10-09),Kloan (30-10-09),leostar79 (28-01-16),maile (13-06-10),sonthuy (27-10-09),thucnguyen (02-11-09),tom (18-01-10),vanti67 (24-07-13)

      5. #3
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        758
        Cảm ơn
        245
        Được cảm ơn: 2,921 lần
        trong 596 bài viết

        Default

        KHÓA XƯA VỀ BỔ LONG
        (Tiếp theo)

        * Bốn Long Tí , Bính , Ngọ , Đinh thuộc Hỏa , Sinh Dần , Vượng Mộ Tuất , Lâm quan ở Tỵ , lấy Dần Ngọ Tuất làm cục Vượng : Thượng cát . Hợi Mão Mùi làm cục Ấn : Cát . Tỵ Dậu Sửu làm cục Tài : thứ cát . Than Tí Thìn là cục Sát : Hung . Thìn Tuất Sửu Mùi làm cục Tiết : Hung . Mừng được sơn Giáp Ất Bính Đinh . Nhưng khó giữ lấy hết .

        + Bính Long làm Tỵ Sơn Hợi Hướng : Dương Công lấy năm tháng đều Kỷ Tỵ , ngày Nhâm Ngọ , giờ Nhâm Dần , cục Tam hợp kiêm Lâm Quan , vì Bính Long thì Lộc ở Tỵ , năm tháng ngày giờ đều Tỵ , Nhâm ngọ Quý Nhân tới Tỵ sơn , Tam hợp bổ Long cũng bổ Sơn vậy .

        +Bính Long làm Cấn Sơn Khôn Hướng : Lại Công lấy năm Quý Tỵ , tháng Đinh Tỵ , ngày Canh Ngọ , giờ Mậu Dần cũng là cục Tam Hợp Lâm Quan .

        Từ đây trở lên đều là cục Tam hợp kiêm Lâm Quan , vi nhân năm Tam hợp chia nguyệt chia sơn hướng bất không , thì dùng Lâm quan niên nguyệt .

        * Năm Long : Thân Canh Dậu Tân Càn thuộc Kim , Sinh :Tỵ , Vượng : Dậu , Mộ : Sửu , . Lâm quan ở Thân , lấy Tỵ Dậu Sửu làm Tam hợp , là cục Vượng : Thượng cát ; lấy Thìn Tuất Sửu Mùi Thổ làm cục Ấn , nhưng hình xung nhau : không cát ; lấy Hợi Mão Mùi làm cục Tài : Thứ cát ; lấy Thân Tý Thìn làm cục Tiết : hung . Dần Ngọ Tuất làm Sát cục : càng hung . Mừng được hang Can Canh Tân Mậu Kỷ , nhưng khó lấy được hết .

        + Dậu Long làm Dậu Sơn Mão Hướng : : Dương Công lấy năm Giáp Thân , tháng Quý Dậu , ngày Đinh Dậu , giờ Kỷ Dậu là cục Quan Vượng .- Lại Công lấy năm Tân Dậu , tháng Tân Sửu , ngày Tân Sửu , giờ Quý Tỵ , cục tam hợp tam điểm là Tân Lộc tới Dậu long Dậu sơn .

        + Tân Long làm Càn sơn Tốn hướng : Tăng văn Sơn lấy năm Đinh dậu , tháng Kỷ dậu , , ngày Giáp Thân , giờ Kỷ tỵ , là cục Tam hợp kiêm Lâm quan .- lại lấy năm Kỷ dậu , tháng QUý dậu , ngày Nhâm thân , giờ Ất tỵ là cục Tam hợp kiêm Lâm quan : cát . Tuy là cục Âm phủ Kim , chế đi thì không hại .

        + TÂn Long làm Nhâm Sơn Bính Hướng : LẠi Công lấy năm Tân dậu , tháng Tân sửu , ngày Tân dậu , giờ Quý tỵ , cục Tam hợp , lại là 3 Tân bổ Tân long vậy .

        Khóa đời xưa rất nhiều , khó mà chép đủ , hãy cử ra ít thế để làm mẫu : Hoặc cục Tam hợp , hoặc trong Tam hợp chỉ dùng 2 chữ , hoặc Tam hợp kiêm Lâm quan , hoặc chỉ một Lâm quan Đế Vượng 2 chữ , hoặc Thiên can nhất khí , hoặc Địa chi nhất khí , tóm lại đều là bổ Long cả ; Lấy Bổ Long làm chủ , mà lại không xung khắc Tọa sơn , không xung khắc Chủ mệnh . Vả lại Tọa sơn có cát thần , không hung sát ; Chủ mệnh hoặc Tỉ Kiên , hoặc Hợp Tài , hoặc Hợp Quan , hoặc hội họp Tứ Trụ Quý nhân Lộc Mã ; lại hoặc Tứ Trụ Quý nhân Lộc Mã tới Sơn tới Hướng thì là khóa thựng thượng cát . Địa chi nhất khí ấy , cùng Tứ chi một dạng , hoặc 4 chữ Sinh Vượng của bản Long , 4 chữ Lâm quan , 4 chữ Đế vượng : đều khá , 4 chữ Mộ thì hung . Chữ Mộ không Tam hợp kết cục , không nên dùng .

        * Lại có cách Nạp âm để Bổ long , bọn nhà sư chăm chăm chuộng đó . Như Thạc Trưởng làm táng mộ cho Hoàng thị ở Phong Thành Uyển Cương , vốn là Tuất long làm Tân sơn Ất hướng , được Giáp tuất Hỏa long vào huyệt , nên Mộc âm sinh đó , Hỏa âm giúp đỡ đó . Chính nên nhân Vượng tiết Lập hạ , chho nên dùng năm Canh dần ( mộc âm) , tháng Nhâm ngọ ( mộc âm ) , ngày Mậu ngọ ( hỏa âm ) , giờ Kỷ mùi ( hỏa âm ) hạ táng .-

        Lại nói : 8 chữ lầy dùng về tạo , táng , thì Kim ở nạp âm , không nên sai một mảy may , thì phúc ứng như tiếng vang nhưng lấy phép trước mà xem thì cùng hợp nhau . Tuất Long thuộc Thổ , lại dùng Dần Ngọ Tuất tam hợp cụa Hỏa . Nay Thác Trưởng Lão dùng Dần Ngọ cục Hỏa , để sinh Tuất Thổ , thì không những nạp âm thuộc Hỏa , có thể giúp Giáp Tuất hỏa long . Cho nên Bổ long tất lấy cục tam hợp trước kia , hoặc cục nhất khí làm chủ , mà tham lấy thuyết nạp âm . Thác Trưởng Lão không bỗ Tân sơn mà bỗ nạp âm của Tuất long , như thế cố nhiên biết người xưa trong long không trọng sơn . Người đời nay không hỏi long mà hỏi sơn , há chẳng nhầm vậy ru !

        * Lại có phép , gọi là chiếm đoạt khí tốt hai phương : cũng cát . Như Mộc long thì Tứ Trụ dùng 3 chữ Dần Mão Thìn , hoàn toàn gọi là chiếm đoạt khí tốt phương Đông . Hỏa long thì dùng 3 chữ Tỵ Ngọ Mùi hoàn toàn gọi là chiếm đoạt khí tốt phương Nam .Kim long thì dùng 3 chữ Thân Dậu Tuất , hoàn toàn gọi là chiếm đoạt khí tốt phương Tây . Thủy long thì dùng 3 chữ Hợi Tí Sửu , hoàn toàn gọi là chiếm đoạt khí tốt phương Bắc > Đây cùng với cục Quan Vượng giống nhau . Nhưng 4 chữ còn thiếu 1 chữ , thì lấy trong 3 chữ chọn chữ nào không lợi , phần nhiều dùng 1 chữ để thành ra Tứ Trụ . Trong 3 chữ không nên xem riêng 1 chữ , nếu xem riêng 1 chữ thì là loạn cách . Dương Công tu phương cho người ta dùng năm Nhâm Dần , tháng Giáp Thìn , ngày Giáp Thìn , giờ Đinh Mão , đấy tất là long Dần Mão Giáp Ất , Lại tọa Dần Mão sơn là Dần Mão Thìn là cách hoàn toàn tú chiếm phương Đông .
        -------------------------------------------------
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      6. Có 11 Hội viên đã cảm ơn đến "AnhNgoc" về bài viết có ích này:

        cuongbao (30-10-09),htruongdinh (30-10-09),Kloan (30-10-09),Lechi (30-10-09),leostar79 (28-01-16),maile (13-06-10),sonthuy (02-11-09),thucnguyen (02-11-09),tom (18-01-10),vanti67 (24-07-13),Đại An (03-11-09)

      7. #4
        Tham gia ngày
        Sep 2009
        Bài gửi
        6
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 4 lần
        trong 2 bài viết

        Default

        Lechi cám ơn Anh Ngọc vô cùng. Xin Anh Ngọc tiếp tục đưa lên mạn tiếp TTCC.
        Lần nửa, cám ơn Anh Ngọc nhiều lắm lắm.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      8. #5
        Tham gia ngày
        Nov 2009
        Bài gửi
        119
        Cảm ơn
        70
        Được cảm ơn: 69 lần
        trong 39 bài viết

        Default

        anh ngoc,sao anh lai ko viet tiep nua vay,em dang dc do dang ,,,,,,,bay gio phai lam sao day.anh co the viet tiep duoc ko.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      9. #6
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        673
        Cảm ơn
        1,733
        Được cảm ơn: 634 lần
        trong 390 bài viết

        Default

        Các bạn chịu khó chờ nha! anhngoc đang đi ngao du ở Huế nhanh lắm cũng đến cuối tháng mới về
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      10. #7
        Tham gia ngày
        May 2009
        Bài gửi
        5,506
        Cảm ơn
        1,033
        Được cảm ơn: 18,316 lần
        trong 4,266 bài viết

        Default

        Anh Ngọc đã vào cốc tu rồi, hic
        [IMG]http://anhdepblog.com/graphics/popular/images/heart-6.gif[/IMG]
        Hạnh phúc cho những ai biết được bí mật của tự nhiên

      11. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "vanhoai" về bài viết có ích này:

        tuyettinh09 (20-11-09)

      12. #8
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        758
        Cảm ơn
        245
        Được cảm ơn: 2,921 lần
        trong 596 bài viết

        Default

        Trích Nguyên văn bởi vanhoai Xem bài gởi
        Anh Ngọc đã vào cốc tu rồi, hic
        Xin lỗi đã để các bạn phải đợi . Đúng là tôi đang ở một vùng mà kiếm tiệm net hơi khó , nên nói là vào cốc tu như Vanhoai cũng đúng thôi . Tôi sẽ cố tranh thủ để gõ bài cho các bạn " châm cứu " . Các bạn an tâm , tôi sẽ gõ đến hết cuốn Tuyển Trạch Cầu Chân chứ không bỏ "Nửa chừng xuân "đâu. Thân chào.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      13. Có 4 Hội viên đã cảm ơn đến "AnhNgoc" về bài viết có ích này:

        Hungson (21-07-12),Kloan (30-11-09),sonthuy (22-11-09),thiên thư (21-07-12)

      14. #9
        Tham gia ngày
        Mar 2010
        Bài gửi
        911
        Cảm ơn
        600
        Được cảm ơn: 748 lần
        trong 419 bài viết

        Default

        AnhNgoc ui,

        Sao anh không viết tiếp? Chắc lúc này anh vào cốc tu luện nửa rồi
        Life is like riding a bicycle - in order to keep your balance, you must keep moving.
        ~Albert Einstein

      15. #10
        Tham gia ngày
        Aug 2010
        Bài gửi
        9
        Cảm ơn
        0
        Được cảm ơn: 50 lần
        trong 9 bài viết

        Default

        TỨ ĐẠI CÁT THỜI (Tứ sát một thời).

        Khảo Nguyên rằng: "Tứ sát là Dần Ngọ Tuất thì Hoả sát ở Sửu, Hợi Mẹo Mùi thì Mộc sát ở Tuất, Thân Tý Thìn thì Thuỷ Sát ở Mùi, Tị Dậu Sửu thì Kim sát ở Thìn. Phàm lấy Tứ sát thời thì lấy Tướng của tháng gia vào giờ, khiến cho Tứ sát lâm tới vị Càn Khôn Cấn Tốn, là Tứ sát mất ở Tứ Duy. Bốn tháng về tháng Mạnh là tháng Giêng, tư, bảy, mười thì dùng giờ Giáp, Canh, Bính, Nhâm. Bốn tháng về tháng Trọng là tháng hai, năm, tám, mười một thì dùng giờ Cấn, Tốn, Khôn, Càn. Bốn tháng về tháng Quý là ba, sáu, chín, mười hai thì dùng giờ Ất, Tân, Đinh, Quý. Như tháng Giêng, Tướng của tháng ở Hợi, thì lấy Hội gia vào Giáp, hoặc gia vào Bính, hoặc gia vào Canh, hoặc gia vào Nhâm, y 24 phương vị tính thuận đi, thì Tứ sát Thìn Tuất Sửu Mùi đều lâm tới quái vị Tứ Duy, đó là Tứ sát một thời vậy, lấy Tứ sát đã mất, cho nên bảo là Tứ Đại Cát Thời vậy.
        xét Thìn Tuất Sửu Mùi gọi là Tứ Sát, là cho rằng khí của Ngũ Hành (của cục ấy) đấn đấy là trọn hết (vì nếu các anh chị, các bạn để ý sẽ thấy đó là vị trí Dưỡng của Cục, tức là cuối của vòng Trường Sinh vậy). Nếu tới vị Trường Sinh, thì Sinh Sinh mãi không thôi, quanh quẩn không mối, cho nên gọi là Tứ sát một thời, tức là cái thuyết nói về Nhâm khoá Tứ mộ hậu sinh. Còn lấy Bát Can Tứ Duy mà nói, thì như Tông Kính bảo là trên giờ 4 khắc, thì thuyết này được đó. Vì thông lệ của phép Tuyển Trạch lấy giờ, mà không phải Tứ sát một thời ấy, chỉ cùng với Bát Can Tứ Duy cùng nhau can thiệp. Người tục lấy cái đó làm Thần tàng sát một, thì nhân hai chữ sát một đến nỗi nhầm lẫn!!!
        Tướng của 4 tháng Mạnh thì dùng giờ Giáp Bính Canh Nhâm, tướng của 4 tháng Trọng thì dùng giờ Càn Khôn Cấn Tốn, tướng của 4 tháng Quý thì dùng giờ Ất Tân Đinh Quý.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      16. Có 3 Hội viên đã cảm ơn đến "bknavn" về bài viết có ích này:

        dtkien (20-01-13),khoahoc (22-08-11),vanti67 (24-07-13)

      Trang 3/12 đầuđầu 12345 ... cuốicuối

      Đề tài tương tự

      1. Dịch - Định - Tâm - Trạch
        By admin in forum Về chúng tôi
        Trả lời: 4
        Bài mới: 17-08-11, 22:16
      2. Đổng công tuyển nhật!
        By vocuc in forum Tủ sách Huyền Không Lý Số
        Trả lời: 3
        Bài mới: 13-04-11, 07:42
      3. Âm trạch
        By htruongdinh in forum Phong Thủy I
        Trả lời: 18
        Bài mới: 18-02-10, 20:57
      4. Nhờ xem ngày giờ nhập trạch
        By lehien28 in forum Nhờ xem ngày giờ
        Trả lời: 4
        Bài mới: 25-09-09, 11:48
      5. Xem giúp lá số Tử Bình! Chân thành cảm ơn!
        By ngoisaobang99992003 in forum Nhờ xem Tử Bình
        Trả lời: 2
        Bài mới: 23-08-09, 21:36

      Tags for this Thread

      Quuyền Hạn Của Bạn

      • Bạn không thể gửi đề tài mới
      • Bạn không thể gửi trả lời
      • Bạn không thể gửi đính kèm
      • Bạn không thể sửa bài viết của mình
      •