Phương pháp định cách cục - dụng thần trong sách tử bình cổ và phương pháp dụng thần thủ pháp trong các sách hiện đại đưa ra kết quả khá giống nhau trong nhiều trường hợp.
Xin lấy ví dụ trên:
1 - Như mệnh Lưu Trừng Như:
Quan….. thực….. nhận…...tấn

Nhâm…… kỷ…… đinh…….giáp

Tuất………dậu…….Sửu…….thìn
--
Đinh sinh tháng Dậu, t.tài nắm lệnh, khí thuần nhất (dậu chỉ tàng Tân) lệnh tháng lại không hội hợp thay đổi hành (dậu sửu bán hợp kim không hóa, dẫu hóa vẫn là hành kim) do vậy cách cục - dụng thần sẽ xoay quanh tài cách. đó là
1. Tài vượng sinh Quan cách. Cách cục thành nếu Quan tinh thấu lộ và không có thực thương mạnh.
2. Tài gặp Thực sinh cách. Rất cần Tỷ Kiếp nhiều để Thực hóa Kiếp Tỷ sinh Tài.
3. Tài cách phối Ấn. Cần Ấn thụ thông căn và Tài Ấn không ngăn trở nhau (dựa vào vị trí của các trụ để xét xem tài ấn có ngăn trở nhau hay không)
Ta thấy tứ trụ trên:
- Lộ ra Nhâm quan tinh sẽ là Tài vượng sinh quan cách. Nhưng lại lộ ra Kỷ thực thần nên cách cục bị phá hoàn toàn.
- Bây giờ xét 2 cách cục Tài gặp Thực sinh hoặc Tài cách phối Ấn thì đều chưa hoàn mỹ bởi Tài gặp Thực sinh mà Tỷ Kiếp không nhiều, Tài cách phối Ấn mà Ấn thụ vô căn. do vậy chờ đến vận cách cục - dụng thần sẽ thay đổi mà trở nên thành cách.
vận Giáp Dần, Ất Mão chính là Tài cách phối Ấn thành công nhờ đó mà phát phú.
--
Theo phương pháp dụng thần thủ pháp thì Mộc là DT cũng sẽ cho kết quả như trên.