Tên đăng nhập:
Bạn đã có tài khoản chưa?
Quên mật khẩu?
  • Đăng nhập / Ghi danh

    kết quả từ 1 tới 10 trên 130

      Threaded View

      1. #11
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        98 - Quý Mùi / Tân Dậu / Ất Đậu / Đinh Hợi (Diêm Tích San)

        99 - Mậu Tý / Tân Dậu / Ất Mùi / Bính Tý (Thương Chấn)

        100 - Mậu Ngọ / Tân Dậu / Ất Mão / Bính Tuất (Lục Vinh Đình)

        Cả 3 trụ đều là Tân kim thấu, Đinh hỏa cường, thu mộc thịnh vậy. Nhưng nên chú ý, Tân kim tất nên thấu ra, vì có lực mới thành quý cách. Ất là nhu mộc, không sợ Sát vượng, Sát thấu ra mới quý, thêm Bính Đinh cùng thấu ra là đẹp. Như Hứa Thế Anh:

        101 - Quý Dậu / Tân Dậu / Ất Sửu / Tân Tị

        Hành vận: Canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ / đinh tị / bính thìn / ất mão / giáp dần

        Ất mộc quá nhược, tuy thấu Ấn thông căn, không thể luận tòng cách, Bính hỏa trong Tị muốn cứu thu mộc không thịnh, lại vướng phải tam hợp (Tị Dậu Sửu), vô lực chế Sát. Tuy cùng là quý cách, nhưng so 3 trụ trên, có phân ra cao thấp. Như Đinh hỏa thấu ra, mà Tân kim lại chẳng thấu, tất chế Sát thái quá, thành người ngu hèn vậy. Thu mộc mới luận thế.

        102 - Đinh Mùi / Kỷ Dậu / Ất Hợi / Quý Mùi

        Trụ này Đinh hỏa thấu, thu mộc thịnh, mà Tân kim không thấu nên chẳng thành cách.

        103 - Bính Tý / Tân Sửu / Ất Tị / Ất Dậu

        Trụ này Tân kim Bính hỏa đều thấu, chỉ vì đông mộc không phải thu mộc, chẳng luận như nhau.

        Bính sanh tháng Tý gặp Quý thủy thấu, là Chánh quan cách. Chi đóng ở Dần Ngọ là lộc nhận, Bính hỏa thân vượng. Canh kim lộ tất Quan được Tài sanh, Quan có Tài dẫn, Quan lấy Tài làm gốc. Vận hành Tài hương, tất nhiên đại quý, bởi nhật nguyên với Tài Quan đều có lực vậy. Ví dụ như sau:

        104 - Tân Dậu / Canh Tý / Bính Dần / Quý Tị

        Hành vận: Kỷ hợi / mậu tuất / đinh dậu / bính thân / ất mùi / giáp ngọ

        Trụ này Quý thủy thấu, Canh kim lộ. Hay ở chỗ ngày tọa trường sanh, giờ gặp quy lộc, thân vượng gánh nổi Tài Quan, mà Tài sanh nên Quan vượng vậy. Trụ này trích từ "Tích thiên tủy chinh nghĩa ".

        105 - Kỷ Mão / Bính Tý / Bính Dần / Bính Thân

        Hành vận: Ất hợi / giáp tuất / quý dậu / nhâm thân / tân mùi / canh ngọ / kỷ tị

        Trên đây là trụ của Hồ Hán Dân. Tiếc rằng Quý thủy không thấu, Canh kim chẳng lộ, mà Thân xung Dần, tổn thương gốc của Bính hỏa, tuy có hoài bảo lớn, danh cao thiên hạ, mà dụng thần không hiện, phụ trợ không có lực, chủ trì trung ương, mưa dầm xanh cỏ, chỉ còn đợi tuế vận phù trợ vậy. Quan gặp Tài Ấn, không bị hình xung, Quan cách thành, xung Quan tất là phá cách. Trụ này Tài Ấn xung nhau, tuy không phá cách, nhưng khiến phụ tá chịu tổn thất.

        Lại có khi có tình mà kiêm có lực, có lực mà kiêm có tình vậy. Như Giáp dùng Dậu Quan, Nhâm hợp Đinh làm thanh Quan, như Nhâm thủy căn thâm, là có tình mà kiêm có lực vậy. Ất dùng Dậu Sát, Tân gặp Đinh chế, mà Tân có lộc tức Đinh trường sanh, cùng gốc ở nguyệt lệnh, là có lực mà kiêm có tình vậy. Cách đẹp đến thế là cùng.

        Có tình có lực, trước chia sơ ra, định thêm cách kiêm, thay đổi mà tốt đẹp. Như cách Chánh quan bội Ấn, Giáp dùng Dậu Quan, Nhâm hợp Đinh hóa Thương hộ Quan là có tình, Nhâm thủy thông căn thân Hợi là có lực. Cách Thực thần chế Sát, Tân kim thấu ra, thông căn nguyệt lệnh, là Sát có lực, mà được lợi ở chỗ kị thần không có lực. Như Giáp dùng Dậu Quan, Nhâm là hỉ thần, Đinh là kị thần, nên lấy Nhâm thông căn là tốt đẹp. Như Đinh hỏa thông căn, tất hợp mà chẳng mất, là bệnh chẳng yên, trở thành vô tình. Ất dùng Dậu Sát, thấu Đinh hỏa chế Sát là hỉ thần, gặp Nhâm hợp Đinh là kị thần, như Nhâm thông căn, tất Ấn thâm đoạt Thực, rất là phá cách. Nên trong có tình có lực, trước nên xét kỹ là hỉ hay kị vậy.

        Như Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh Thương quan gặp Quý Ấn, Quý khắc Đinh nhưng chẳng may bị Nhâm hợp, có tình chẳng bằng vô tình vậy. Ất gặp Dậu là Sát, thấu Đinh chế, như Sát cường mà Đinh yếu nhược, hoặc Đinh vượng mà Sát chẳng bằng, hay Tân Đinh đều vượng mà Ất căn chẳng sâu, tưởng có lực mà hoàn toàn không có lực, cách tuy cao mà xếp hạng thứ mà thôi.

        Từ chú: như thượng giáp dụng dậu quan, thấu đinh vi thương, nhâm quý tuy đồng vi khứ thương hộ quan, nhi quý bất tri nhâm. Cái nhâm hợp vi khứ chi vô hình, thả hữu hóa mộc bang thân chi ích, quý khắc bất quá cường nhi khứ chi nhi kỷ, bất như hóa kị vi hỉ vi tình chi chí. Ất phùng dậu sát, dĩ thân cường thực sát tịnh vượng vi hợp cách, nhược sảo hữu đê ngang, tức phi toàn mỹ, tất tu vận tuế bổ kỳ bất túc, phương năng phát đạt. Như sát cường đinh nhược, tu hành thực thương chế sát chi vận; đinh vượng sát nhược, tu hành sát vượng chi vận; tân đinh tịnh vượng nhi thân nhược giả, tất tu hành lộc vượng chi vận. Bất phùng giai vận, y nhiên oách khuất, sở dĩ vi cách chi thứ cao giả dã. Thí như thượng nghị thân cường sát vượng tiết, sở dẫn diêm thương lục tam tạo, bính hỏa thương quan chế sát, bất tri đinh hỏa thực thần chế sát vi hữu lực hà tắc ? Bính hỏa phùng tân phản khiếp, bất năng hiển kỳ lực. Thử thương lục lưỡng tạo, sở dĩ bất cập diêm tạo dã.

        Như ở trên Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh là Thương quan, Nhâm Quý tuy cùng là khử Thương hộ Quan, mà Quý không bằng Nhâm. Vì Nhâm hợp mất Đinh, thêm hóa mộc giúp ích thân, dùng Quý khắc chẳng qua khử Thương để thân cường, không bằng hóa kị ra hỉ ấy mới là tình. Ất gặp Dậu Sát, lấy thân cường Thực Sát đều vượng là hợp cách, như cao thấp 1 chút, thì không toàn mỹ, tất nên đợi tuế vận bù chỗ thiếu, thì mới phát đạt. Như Sát cường Đinh nhược, nên hành vận Thực thương chế Sát; Đinh vượng Sát nhược, nên hành vận Sát vượng; Tân Đinh đều vượng mà thân nhược, tất nên hành vận lộc vượng. Chẳng gặp được vận tốt, phải chịu thua kém, vì thế là cách thứ cao vậy. Thí dụ như trên đã nói tiết thân cường Sát vượng, dẫn ra Diêm, Thương, Lục, 3 trụ, Bính hỏa Thương quan chế Sát, không bằng Đinh hỏa Thực thần chế Sát là có lực là sao? Bính hỏa gặp Tân phản pháo, lực không hiển hiện. Nên trụ của Thương và Lục đều không bằng Diêm vậy.

        Như Ấn dùng Thất sát, vốn là quý cách, nhưng thân cường Ấn vượng, thấu Sát là cô bần, thân vượng chẳng cần Ấn sanh, Ấn vượng cần chi thêm Sát trợ? Đã thiên lệch lại thêm thiên lệch, ấy là vô tình vậy. Thương quan bội Ấn, vốn là quý, nhưng thân chủ quá vượng mà Thương quan quá kém, Ấn lại quá nặng, chẳng quý chẳng đẹp, trợ thân tất thân cường, chế Thương tất Thương kém, thế thì làm sao dùng trọng Ấn được? Như thế cũng là vô tình vậy. Lại như Sát cường Thực vượng mà thân không có căn, thân cường Tỷ trọng mà Tài không có khí, hoặc yểu hoặc bần, là do không có lực vậy. Đều là cách thấp mà không có dụng vậy.

        Dụng thần phối hợp giúp đỡ, cốt yếu toàn ở hợp với ngày chủ hay không. Nên nếu dùng hợp, tất Thương quan có thể gặp Quan; không hợp thành dụng, tất Tài Quan đều là vật hại thân. Như Ấn dùng Thất sát, vốn lấy Ấn hóa Sát sanh thân làm dụng, như thân cường Ấn vượng, Sát Ấn đều mất tác dụng, vì quá vượng không có chỗ tiết, trở ngược lại thành hại ngày chủ, ấy là đã thiên lệch lại thêm thiên lệch. Thương quan mà dùng bội Ấn, tất do thân nhược Thương vượng, nên lấy Ấn tư thân chế Thương để mà được trung hòa, như thân với Thương quan đều vượng, tất yếu không lấy bội Ấn vậy. Như đã thế mà lại thêm Ấn trọng, Thương quan bị khắc tận, Ấn là phá cách nên là kị thần. Sát cường Ấn vượng tất thân nên cường, mới có thể chế Sát làm quyền, như thân không có căn, tất tiết chồng thêm, làm sao chịu nổi? Thân cường Tỷ Kiếp trọng mà dùng Tài tất nên có Thực thương để tiết Tỷ Kiếp, hoặc có Quan sát chế Tỷ kiếp để hộ Tài, như Tài phò lộ ra mà không có căn, tất bị Tỷ Kiếp tranh đoạt hết sạch. Thế là chỉ vượng mỗi thân mình, vợ con tiền bạc, chẳng có 1 phân, ấy là bần yểu không nghi ngờ gì nữa.

        Trong nguyên nhân phân ra cao thấp, biến hóa rất tinh vi, hoặc 1 chữ mà có lực mạnh như ngàn quân, hoặc nửa chữ mà toàn cục đẹp đẽ trở thành bại, tùy giờ mà xem xét lý, lấy cái khó mà bàn nghị, đại lược là thế.
        Cách cục biến hóa, không thể nói hết, thí dụ như:

        106 - Mậu Tuất / Tân Dậu / Mậu Tuất / Bính Thìn

        Hành vận: Nhâm tuất / quý hợi / giáp tý / ất sửu / bính dần / đinh mão

        Tân kim Thương quan làm dụng, Bính hợp Tân kim bị vướng buộc là bệnh.

        107 - Bính Ngọ / Tân Mão / Mậu Dần / Giáp Dần

        Hành vận: Nhâm thìn / quý tị / giáp ngọ / ất mùi / bính thân / đinh dậu
        Bính hỏa hóa Sát làm dụng, Tân kim hợp Bính bị vướng buộc là bệnh.

        2 trụ cùng lấy hợp làm bệnh. Trụ trên Bính Tân hợp cách ngôi, nên lực khắc chế nhược, trụ dưới Bính Tân kề cận mà Tân ở tháng can, lực chế quá mạnh; trụ trên Bính hỏa sanh Mậu nên Mậu tiết tú, trụ dưới Bính hỏa khắc mất Tân kim, mới có thể hóa Sát sanh thân. Cách cục cao thấp, vì thế dứt mà chưa hết, vì trong biến hóa, đã tinh vi lại thêm tinh vi, học giả nên minh mẫn tinh thần mà xét.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      2. Có 2 Hội viên đã cảm ơn đến "VULONG" về bài viết có ích này:

        ChucSonTu (26-01-14),diennien (26-01-14)

      Đề tài tương tự

      1. Trả lời: 3
        Bài mới: 10-08-12, 09:09
      2. Tử bình chân thuyên
        By Ducminh in forum Tủ sách Huyền Không Lý Số
        Trả lời: 8
        Bài mới: 15-10-10, 20:58

      Tags for this Thread

      Quuyền Hạn Của Bạn

      • Bạn không thể gửi đề tài mới
      • Bạn không thể gửi trả lời
      • Bạn không thể gửi đính kèm
      • Bạn không thể sửa bài viết của mình
      •