Tên đăng nhập:
Bạn đã có tài khoản chưa?
Quên mật khẩu?
  • Đăng nhập / Ghi danh

    Trang 5/13 đầuđầu ... 34567 ... cuốicuối
    kết quả từ 41 tới 50 trên 130
      1. #41
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        Chương 22 : Luận Ngoại Cách Dụng Xả

        (Bàn về dùng và không dùng Ngoại Cách)

        Nguyên văn:
        Dụng thần của bát tự đã chú trọng tìm ở nguyệt lệnh, vậy tại sao còn có ngoại cách nữa? Có Ngoại cách là do nguyệt lệnh vô dụng, phải tùy cơ ứng biến mà dùng nên gọi là ngoại cách.

        Từ chú thích:
        Bài này bàn luận tựa hồ chưa rõ ràng, do sách vở lấy nguyệt lệnh là kinh, Dụng thần làm vĩ. Dụng thần là yếu tố then chốt của toàn cục. Thần khí nguyệt lệnh không có khả năng làm đầu mối trọng yếu ảnh hưởng đến toàn cục của tứ trụ thì phải từ đó chọn ra một can chi riêng để dùng. Dụng thần tuy chọn riêng nhưng trọng tâm của nó lại ở nguyệt lệnh, như mộc sinh tháng mùa đông, thủy vượng mộc trôi, chọn Tài thì tổn Ấn nên phải dùng hỏa để điều hậu, chính là bởi nguyệt lệnh tuy thủy vượng nhưng lại rét buốt; mộc sinh tháng thu, kim quá cứng nên mộc bị sứt mẻ, chọn hỏa chế kim hoặc chọn thủy để hóa kim, chính là do nguyệt lệnh khí kim quá vượng. Những trường hợp này đều không có tên gọi riêng. Ngoại cách, chính là trường hợp riêng của chính cách, khí thế vượt thắng nên không thể lấy thường lý để chọn dụng thần, ở vào ngoại lệ của "con đường đúng", cho nên mới gọi là ngoại cách.

        Nguyên văn:
        Như mộc mùa xuân, thủy mùa đông hay thủy sinh vào tháng tứ quý, khi cùng ngày cùng tháng thì khó mà thấy tác dụng, đều có thể rơi vào loại tượng, hình tượng, xung tài, hội lộc, hình hợp, hay các cách Diêu nghênh (hay Dao tị ? ), Tỉnh lan, Triều dương..., tất cả đều có thể. Nếu nguyệt lệnh tự có Dụng thần, có nên đi tìm ngoại cách? Lại có người mộc sinh mùa xuân, thủy sinh mùa đông, can thấu bên trên có cả Tài Quan Thất Sát, mà bỏ đi để theo ngoại cách, cũng quá sai lầm. Đó là lý do can thấu có Tài, dụng gì để xung Tài? can thấu Quan, dùng gì để hợp lộc? Thư nói rằng: "Đề cương hữu dụng đề cương trọng ", mà cũng nói "Hữu Quan mạc tầm cách cục", chính là một lời nói bất di bất dịch.

        Từ chú thích:
        Xuân mộc đông thủy chính là Dương Nhận kiến Lộc, cần biết rằng Nhận Lộc tuy không thể làm dụng, nhưng quan hệ với Dụng thần lại ở nguyệt lệnh. Như Sát Nhận cách, chọn Quan Sát chế Nhận, đó là dụng tại Quan Sát; kiến Lộc Thân vượng, lấy thần tiết tú thành tốt đẹp, đó là dụng tại Thực Thương. Thổ sinh tứ quý, dụng mộc làm tơi thổ, hoặc dụng kim tiết tú, đó là dụng tại mộc kim. Các loại này đều chẳng phải ngoại cách. Cần khí tượng tứ trụ thiên hướng về một phương, như xuân mộc mà chi liên kết thành Dần Mão Thìn, hoặc Hợi Mão Mùi, tứ trụ không thể phù ức. Ngày và tháng giống nhau thì tòng Cường, tòng Vượng; ngày tháng không giống mà nhật nguyên lâm Tuyệt, thì tòng Quan Sát, tòng Tài, tòng Thực Thương. Hoặc Nhật can hóa hợp thì thành hóa khí, như loại tượng thuộc về một loại hình thì mới thành ngoại cách. Ngoại cách tuy rất quy cách, nền nếp nhưng bản thân cũng có một ý nghĩa là không rời xa chính lý ngũ hành thì mới được. Nếu gặp các cách đảo xung, hình hợp, Diêu nghênh, Triều dương, lý ngũ hành chưa thông thì cũng không đủ tin tưởng (Tỉnh Lan tức Thực Thương cách). Còn khi nguyệt lệnh có Dụng thần, Tứ trụ được phù ức, sao lại bỏ cái riêng mà chọn cái lẽ chung? "Đề cương hữu dụng đề cương trọng" là lời nói luận Dụng thần phải để ý đến sự quan trọng của nguyệt lệnh; còn "Hữu Quan mạc tầm cách cục" là ý nói tứ trụ có đủ phù ức, không nhất thiết phải tìm cách cục riêng biệt (không nên câu chấp đến chữ Quan trong câu phú). Đây chính là khuôn phép bất di bất dịch để chọn đúng Dụng thần.

        Nguyên văn:
        Song, cái gọi là "nguyệt lệnh vô dụng" vốn là nguyệt lệnh không có Dụng thần, người nay không hiểu thường gán cho các loại như Tài bị Kiếp đoạt, Quan bị Thương hủy hoại,... Dụng thần đã bị phá thì cũng coi như nguyệt lệnh không tuyển chọn được Dụng thần, liền bỏ đi để theo ngoại cách là sai lầm của sai lầm vậy.

        Từ chú thích:
        Câu "Tài bị Kiếp, Quan bị Thương" là nay xem không có thần khí cứu ứng, mà vô cứu ứng tức phá cách (xem tiết: thành bại cứu ứng). Bản lai Bát tự tốt thì ít, xấu thì nhiều, người phú quý ít ỏi, người bần tiện đầy rẫy, và cũng thế, người thành công thì ít mà người thất bại thì nhiều. Tiếc là người đem mệnh để phán đoán, trong tâm ôm ấp hoài bảo chưa thực hiện được hy vọng sẽ đến trong tương lai, nhưng lại hỏi việc xấu mà không hỏi việc tốt, chẳng qua là lời đầu môi chót lưỡi, nên nếu nghe nói Tài bị Kiếp, Quan bị Thương thì họ lại không bịt lỗ tai mà chạy ư? Thế là thuật sĩ hành nghề liền đoán ý hùa theo tâm lý thân chủ, thường giải đoán mà không bàn Dụng thần, chỉ chú trọng lấy Thần sát, cách cục, nạp âm ra để nói qua quýt. Sai lầm này đã tồn tại lâu rồi, người nói chuyện Mệnh lý cần nhận thức được điều này.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      2. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:

        diennien (26-01-14)

      3. #42
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        Chương 23 : Luận Cung Phận Dụng Thần Phối Lục Thân

        (Bàn về Cung phận dụng Thập thần phối với Lục thân)

        * Thân nghĩa là gần gũi thương yêu. Lục thân là sáu hạng người gần gũi thương yêu nhất của mình: Cha, mẹ, vợ, con, anh (chị), em.

        * Cung phận: cung được gán cho một nhiệm vụ cụ thể, ví như một "danh phận" của cung.

        Nguyên văn:
        Con người có Lục thân, Bát tự phối với nó để định ra số mệnh.

        Từ chú thích:
        Danh từ Lục thân xuất phát từ rất lâu, nghĩa đơn giản mà rất đầy đủ. Thời đại nhà Hán, hai nhà Tiêu-Cống (***) khi giải thích quẻ liền lấy khắc ta là Quan Quỷ, ta khắc là Thê Tài, sinh ta là Phụ mẫu, ta sinh là Tử Tôn, đồng khí chất là Huynh đệ, đều là Lục thân của bản thân ta (xem chi tiết ở sách Mệnh Lý Tầm Nguyên). Phối hợp Lục thân trong Mệnh Lý thực tế thoát thai từ đây, tên gọi tuy khác nhau nhưng lý luận chỉ là một.

        Nguyên văn:
        Do sự phối hợp của cung phận, tuần tự niên nguyệt nhật thời tức là từ trước ra sau mà phối thành tổ phụ thê tử (ông cha vợ con), cũng là từ trên xuống dưới, (thiên) phối với địa so khớp, thỏa mãn mà tạo thành các ngôi vị bất biến trong mệnh lý.

        Từ chú thích:
        Cung phận chính là nói đến chức phận của mỗi địa chi, niên chi là gốc tổ tiên, nguyệt chi là cung cha mẹ, nhật chi là cung Thê, chi giờ là cung Tử tôn (con cháu), đây là quy luật từ trên xuống dưới, phối hợp các chi và các địa vị (tôn ti) với nhau. Phàm hỷ dụng tụ vào chi năm hay chi tháng thì tổ tiên giàu có sung túc, cha mẹ được thừa hưởng phúc ấm này còn bản thân mình từ nhỏ đã thừa hưởng gia nghiệp này. Nếu hỷ dụng tụ tại chi ngày, thê thiếp giúp ích cho mình; tụ vào chi giờ, con cháu ắt hẳn có năng lực và vào cuối đời càng tốt hơn nữa. Năm là nơi xuất thân, giờ là chốn đi về hay kết cuộc của một đời người. Xuất thân tốt, thì có thể biết rằng bản thân sẽ hưởng thụ phúc ấm tổ tiên, còn kết cuộc tốt tức hiểu rằng con cháu năng lực đầy đủ, cùng là lẽ tự nhiên mà thôi.

        Nguyên văn:
        Còn dùng Thập Thần để phối hợp thì Chính Ấn là mẹ, để tạo thân thể ta phải có người sinh ra ta. Nhưng Thiên tài là thứ ta khắc chế thì sao lại thành cha ta? Thiên tài chính là chồng của mẹ, mà Chính ấn là mẹ thì Thiên tài là cha. Chính tài là vợ, là bị ta khắc chế, chồng là chủ đạo nên vợ phải theo. Nhưng Quan Sát như kẻ khắc chế ta, vậy tại sao thành con cái? Quan Sát là do Tài sinh, mà Tài là thê thiếp của ta, tức Quan Sát là con cái của ta rồi. Còn Tỉ kiên là Huynh đệ thì lý lẽ hiển nhiên.

        Từ chú thích:
        Thiên Tài là chồng của mẹ, như Giáp lấy Quý làm Chính Ấn, Mậu là Thiên Tài, Mậu Quý hợp như vợ chồng kết duyên với nhau. Bính lấy Ất làm Chính Ấn, Canh là Thiên Tài, Ất Canh hợp nhau, các thần khác cứ thế mà suy. Năm loại can âm theo 5 can dương mà chọn ra, như sinh ngày Ất lấy Quý làm mẹ, lấy Mậu làm cha. Giáp Ất nhật can như có Mậu mà vô Quý thì lấy Nhâm thủy làm phụ mẫu. Tóm lại, nói rằng cha mẹ là người che chở cho ta, Thê tài là kẻ hầu hạ ta, Quan quỷ là kẻ khắc chế ta, Tử tôn là kẻ hậu duệ của ta, Huynh đệ là kẻ đồng khí với ta, thật là dại dột mới cho đây là định luật. Đến như Thiên tài là thứ ta khắc, sao cho là cha ta? Khắc ta là Quan sát, sao gán thành con cái của ta? Đây xuất phát từ lẽ tự nhiên ở đời, người thường chịu sự cấm đoán của cha mẹ thì ít, còn chịu sự ràng buộc của con cái thì nhiều. Sách "Trích Thiên Tủy chinh nghĩa" lấy Ấn làm Phụ mẫu, lấy Thực Thương làm con cái, có phần phù hợp với Dịch Kinh Tiêu, lý luận này thông đạt rồi nên không cần bàn nữa. Lại có thuyết cho rằng Thiên Ấn là mẹ kế, Tỉ Kiên là anh, Kiếp Tài là em, mỗi thuyết đều có ứng nghiệm. Tóm lại, để dùng thập thần phối với lục thân càng cần phải xét kỹ lưỡng các cung phân định địa vị cùng với hỷ kị của nó thì cơ bản khó sai lầm. Số mệnh thường không rõ rệt lắm, thí dụ như triều đại nhà Thanh trước đây, khi có đại tang cha mẹ là làm thăng trầm mất một giai đoạn quan trường, xem ở vận hạn hiển hiện dễ thấy (trong mệnh số thấy có thì thực tế đời người cũng có); còn người ngày nay các lễ nghi đều hủy bỏ, sự tồn vong của cha mẹ cũng không quan hệ đến sự tiến thoái hoạn lộ nên trong mệnh vận không hiện rõ ràng lắm. Thê cung gắn liền với hạnh phúc cuộc đời, đắc lực hay không rất là rõ ràng, học giả thông minh sáng suốt tự mình có thể giải thích được.

        Nguyên văn:
        Trong đó có hay không đắc lực, hoặc cát hoặc hung, cứ lấy tứ trụ mà xét hoặc lấy niên nguyệt hoặc nhật thời định ra Tài Quan Thương Nhận, quan hệ với tượng nào, sau đó lấy Lục thân phối dụng thập thần. Xem trong cách cục biến ra hỷ kị ra làm sao và xem thêm sự phối hợp của nó thì khả dĩ không sai được.

        Từ chú thích:
        Lấy Ấn làm mẫu, lấy Tài làm vợ, toàn cục nếu vô Tài Ấn thì sẽ ra sao? Dụng Thực mà gặp Ấn đoạt Thực, dụng Ấn mà gặp Tài phá Ấn, là ra làm sao? Ở đây phải đánh giá linh hoạt rồi đúc kết lại, không thể câu chấp. Đại khái từ hỷ kị của Ấn để xem về phụ mẫu, không ắt hẳn phải lấy Ấn làm mẹ; từ hỷ kị của Tài để xem Thê cung, bất tất coi Tài là vợ. Nhật chủ hỷ Ấn mà gặp Tài phá, tổ nghiệp lụn bại; Nhật chủ kỵ Ấn mà gặp Tài phá, lại thành hưng gia lập nghiệp. Thân vượng hỷ Tài mà gặp Tỉ Kiếp phân đoạt thì khắc thê, ngược lại Thân nhược Tài trọng, thì dù không có Tỉ Kiếp phân đoạt cũng khắc thê. Phần Thương Nhận phối hỷ kỵ ra sao thì xem, tiết "Luận Thê tử" phía sau. Lục thân phối hợp thì sách "Trích Thiên Tủy chinh nghĩa" quyển 5 tiết Lục thân luận bàn rất rõ ràng, cần nên tham khảo.

        Chú thích(***):
        Tức hai ông Tiêu Cống và Kinh Phòng. Lý thuyết lục thân trong Bói dịch được các nhà nghiên cứu công nhận người phát minh đầu tiên là Tiêu Cống sau truyền cho Kinh Phòng. Lý thuyết tượng quẻ liên quan đến hai người này gọi là Kinh Tiêu Dịch (khác với Mai Hoa Dịch), nhưng nay không còn được dùng.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      4. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:

        diennien (26-01-14)

      5. #43
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        Chương 24 : Luận Vợ Con

        Nguyên văn:Phàm luận việc cát hung trong mệnh thì (sự, việc) càng gần với con người thì ứng nghiệm càng linh ứng. Phú quý bần tiện, các việc liên quan đến bản thân thì không nói rồi; đến phần Lục thân như vợ phối duyên với mình, con là hậu duệ thì càng thiết thân với mình. Cho nên xem mệnh (thấy) vợ con, đề cương (nguyệt lệnh) đắc lực, hoặc niên can hữu dụng thì luận về cha mẹ, vốn thân ta sinh ra từ đó - đều có ứng nghiệm; cho nên, đề cương đắc lực hoặc niên can hữu dụng đều chủ phụ mẫu song toàn. Còn tổ tông, anh chị em thì không ứng nghiệm lắm.

        Từ chú thích:
        Vận mệnh cát hung thuộc phần lợi hay hại của bản thân. Phú quý bần tiện, tiến thoái thuận nghịch, là các việc gắn bó với mình, cho nên đều có thể từ trong Bát tự mà suy ra. Vợ con, bổng lộc đều quan hệ lợi hại đến bản thân, cùng chung vinh nhục với ta nên đều suy đoán được. Nếu mai sau vật đổi sao dời, cha con riêng rẽ, chồng vợ không chung sức thì lợi hay hại đều không liên quan đến nhau nữa, tức lúc đó đoán cát hung khó mà linh nghiệm, ví như con quý hiển mà cha hèn, vợ giàu còn chồng nghèo,.. là không chung mưu cầu cuộc sống thì không thể suy đoán, đồng thời quan hệ giữa lợi hại và các mối lệ thuộc vẫn có thể thấy rõ. Lý lẽ của mệnh cũng đúng như vậy, xưa nay chẳng thấy bất đồng. Năm là tổ tiên để xem tổ nghiệp sang hèn, xuất thân tốt xấu; huynh đệ hỗ trợ hữu ích hay làm liên lụy gây hại,... đều thấy được. Nếu phận ai nấy lo, mỗi người đều toan tính riêng phần mình thì khó mà suy đoán được. Điều này chính là gần cận thì ứng nghiệm còn xa rời thì khó đoán.

        Nguyên văn:
        Lấy vợ (cung Thê) để luận, thấy đóng ở đất Tài Quan thì ứng với vợ hiền đức quý hiển; nhưng cũng có khi đóng ở Tài Quan mà vợ bất lợi; phùng Thương Nhận mà thê trái lại tốt, sao vậy? Đây là do nguyệt lệnh dụng thần phối thành hỷ kị. Giả như thê cung tọa Tài là tốt, nhưng Ấn cách gặp nó trái lại thành chẳng đẹp. Thê tọa Quan là cát, nhưng Thương Quan gặp nó thì sao có thể tâm đầu ý hợp? Thê đóng Thương Quan là hung, nhưng Tài cách gặp nó là Thương quan sinh Tài; Sát cách gặp nó là chế Sát thì trái lại vợ chỉ nội trợ. Thê tọa Dương Nhận là hung, trong tứ trụ các cách Tài Quan Sát Thương đã thành cách cục, còn nhật chủ lại vô khí, thì lúc này chỉ nhờ được Nhận để giúp nhật chủ thì vợ lại hợp với chồng, hết hung. Cho nên các lý đó không nên chấp nhất (phải áp dụng một cách linh động).

        Từ chú thích:
        Ấn cách tức là Thân nhược lấy Ấn làm Dụng thần. Bất luận nguyệt lệnh có phải là Ấn thụ hay không, nếu nhật chi lâm Tài thì với ta là bất lợi, ngược lại thì mới đẹp. Thương Quan là dụng thì kị thấy Quan tinh, khi Thê cung tọa Quan như vác nặng mà chạy thì sao có thể thuận ý được? Tuy nhiên, mùa đông kim thủy Thương Quan, thê cung gặp Quan lại là điềm tốt (xem tiết Phối khí hậu đắc thất). Việc dùng hỷ kị để phối hợp không nên câu chấp, Thê cung tọa Thương Quan, mà Tài cách Sát cách gặp nó trái lại tốt đẹp; Thê cung tọa Dương Nhận mà Thân nhược thì gặp nó ngược lại thành tốt, cái lý của nó tương tự nhau. Tóm lại, thê cung là Hỉ thần thì cát, còn là Kị thần thì hung; Tài là Hỉ Thần thì tốt, là Kị thần là xấu. Dùng lý này tham đoán thì không mảy may sai sót được.

        Nguyên văn:
        Đã xem cung Thê thì nay xem đến sao Thê (vợ). Sao Thê là Tài đứng trên can (Tài thấu lộ lên trên). Thê thấu mà thành cách, như các trường hợp Quan cách thấu Tài, Ấn nhiều phùng Tài, Thực Thương thấu Tài làm dụng, tức đóng ở chổ vô dụng thì cũng chủ vợ nội trợ. Thê thấu mà phá cách, như các loại Ấn khinh Tài lộ, Thực Thần/ Thương Quan (cách), thấu Sát phùng Tài, tức đóng nơi hữu dụng nhưng cũng cần đề phòng hình khắc. Lại có trường hợp thê thấu thành cách, hoặc thê cung hữu dụng lại đóng nơi hình xung, thì khó tránh cảnh vợ đẹp nhưng khó sống đến bạc đầu. Có trường hợp thê tinh lưỡng thấu, Chính/ Thiên tài tạp xuất, chẳng phải một chồng mà nhiều vợ đấy sao? Cũng cần phải đề phòng hình khắc.

        Từ chú thích:
        "Thê thấu thành cách" nghĩa là Tài thấu lộ ra can làm hỷ dụng thần. Như Quan cách thấu Tài lấy Tài sinh Quan làm dụng; Ấn trọng thấu Tài, lấy Tài tổn Ấn làm dụng; Thực Thương thấu Tài, Thực Thương sinh Tài làm dụng. Các loại này đều mượn Tài để thành cách, cho dù nhật chi, vốn là cung thê, không có hỷ dụng thần cũng chủ nội trợ đắc lực, lúc này Tài là Thê tinh (sao vợ).

        "Tài thấu phá cách" như các trường hợp Thân nhược dụng Ấn mà gặp Tài phá, Thực Thần chế Sát mà kiến Tài hóa Thực sinh Sát,... tức là thần khí nhật chi hữu dụng, cũng đề phòng hình khắc, vì lý do đó Tài là Kị thần.

        Lại có trường hợp Tài tinh đóng bên dưới thấu can thành cách, thì cung Thê hay sao Thê đều tốt cả. Còn như phùng hình xung, ví dụ trường hợp Tý xung, Mậu Tý là nhật tọa Tài gặp phải Ngọ xung là tượng khó sống bên nhau trọn đời.

        Còn như Thiên chính Tài tạp xuất, ắt hẳn Tài vượng Thân khinh thì Tài là Kị thần, nếu không có Tỉ Kiếp phân đoạt cũng chủ khắc vợ. Đây là cần phải hỷ kị phối hợp thể định, không thể cứng nhắc được.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      6. Có 2 Hội viên đã cảm ơn đến "VULONG" về bài viết có ích này:

        ChucSonTu (26-01-14),diennien (26-01-14)

      7. #44
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        Nguyên văn:
        Bàn về phần Tử tức, cũng phải xem cung phận và sao Tử tức thấu ra hỷ kỵ, lý lẽ đánh giá hơi giống với luận Thê. Song khi xem về tử tức, ca quyết Trường Sinh Mộc Dục cũng phải đọc thuộc, như :

        "Trường sinh tứ tử trung tuần bán,
        Mộc dục nhất song bảo cát tường,
        Quan đới lâm quan tam tử vị,
        Vượng trung ngũ tử tự thành hành,
        Suy trung nhị tử bệnh trung nhất,
        Tử trung chí lão một nhi lang,
        Trừ phi Dưỡng thủ tha chi tử,
        Nhập Mộ chi thời mệnh yểu vong,
        Thụ khí vi Tuyệt nhất cá tử,
        Thai trung đầu sản dưỡng cô nương,
        Dưỡng trung tam tử chỉ lưu nhất,
        Nam tử cung trung tử tế tường"

        "Trường Sinh bốn con, trung tuần còn một nửa
        Mộc Dục hai con đều cát tường
        Quan Đới, Lâm Quan đều có ba con
        Đế vượng được năm con
        Suy có hai con, Bệnh có một con
        Tử đến già cũng không có con trai, trừ khi nhận nuôi con người khác
        nhập Mộ là lúc Mệnh yểu vong
        Tuyệt một con
        Thai sinh con gái đầu lòng
        Dưỡng ba con chỉ còn lại một
        nam tử trong cung tử tế tường"

        Từ chú thích:
        Quan Sát là sao con cái (Tử tinh), chi giờ là cung phận của Tử tức. Phối hợp hỷ kỵ gần giống với luận vợ, nhưng cũng có điều cần chú ý, xét Quan cần kiêm xét Tài, xem Sát cần kiêm xem Thực, đây là bàn đến Thân cường. Trường hợp Thân nhược cần xem có hay không có Ấn thụ, cho nên Trích Thiên Tủy lấy Thực Thương làm con, Tài làm vợ, Tài vượng ám sinh Quan Sát, cho dù Tứ trụ không thấy rõ Tử tinh cũng ắt hẳn nhiều con, tương tự như Thực Thương sinh Tài cách, v.v... Quan Sát vượng mà vô chế hóa, Thân khinh mà Tài vượng phá Ấn cũng không có con, cho nên luận vợ con, đều cần xem xét phối hợp linh hoạt, cứ cứng nhắc lập luận thì không đúng. [Xem thêm Trích Thiên Tủy - tiết Lục Thân].

        Trường Sinh Mộc Dục ca cũng chính là Trường Sinh Mộc Dục của Quan Sát. Như cho giờ làm Quan Sát lâm Trường sinh ứng với có bốn con; ý của câu "trung tuần còn một nửa" nghĩa là thời điểm nắm lệnh đã thoái rồi, ví dụ như (tháng) Dần là Trường sinh Bính Mậu, sau trung tuần (từ ngày 11 đến 20 tháng Dần), Giáp mộc nắm lệnh, Bính Mậu thoái khí cho nên số con giảm còn nửa. Mộc Dục thì hai con, giống sau trung tuần tháng Dần; Quan Đới Lâm Quan thì ba con; Đế vượng năm con; Thai là con gái, Dưỡng là ba trai còn một. Ca quyết này đoán năm con là tối đa, trai hay gái nhiều, hoặc vài chục con thì lấy gì định? Dùng sinh vượng suy hay bại của hỷ dụng mà đoán nhiều hay ít con; dùng thành bại hay cứu ứng mà quyết có con hay không con. Phép đoán là như thế cả chứ không phải cổ nhân dối gạt gì cả.

        Nguyên văn:
        Phép luận Trường Sinh dùng dương mà không dùng âm, như ngày Giáp Ất chỉ dụng Trường Sinh Canh kim, cục Tị Dậu Sửu thuận số mà không dùng Tân kim nghịch số cục Tý Thân Thìn. Tuy sách có nói Quan là con gái còn Sát là con trai, nhưng rốt cuộc không thể lấy Giáp dùng Canh con trai mà dùng dương cục, còn Ất dùng Tân con trai mà dùng âm cục. Cho nên mộc là nhật chủ không cần hỏi Giáp hay Ất, đều lấy Canh là con trai, Tân là con gái, lý đó tự nhiên đều ở Quan Sát, có ứng nghiệm không?

        Từ chú thích:
        Thập can tức Ngũ Hành, chỉ có Ngũ Hành Trường Sinh mà không có Thập can Trường Sinh. Gọi dương Trường Sinh và âm Trường Sinh chính là do hậu nhân chẳng hiểu nguyên lý mà đơm đặt suy đoán. Gọi Quan là con gái, Sát con trai chính là dương can là nam, âm can là nữ. Lấy Giáp làm ví dụ thì Tân Quan là nữ, Canh Sát là nam. Nếu là Ất thì Canh Quan là năm, Sát là nữ, không thể lầm được. [ Mời xem lại tiết Thập can âm dương sinh khắc ].

        Nguyên văn:
        Cho nên khi cầm bát tự, muốn xem con cái trước tiên phải xem chi giờ. Như sinh ngày Giáp Ất thì xem quan hệ Canh kim ở cung nào, hoặc đóng ở sinh vượng, hoặc đóng tử tuyệt thì ít nhiều đã biết được số, sau đó phối với can giờ là Tử tinh. Như Tài cách mà can giờ thấu Thực, Quan cách mà can giờ thấu Tài đều gọi là can giờ hữu dụng (có dụng thần), chủ có con quý hiển, nhưng không nhiều lắm. Nếu lại gặp sinh vượng tất con trẻ quấn quít quanh chân, khó mà lượng được. Nếu can giờ không tốt, Tử tinh thấu phá cục, nghĩa là phùng Tài vượng khó khăn đường con cái, nếu gặp tử tuyệt thì khó có hy vọng. Phép luận vợ con này chỉ mang tính khái quát.

        Từ chú thích:
        Thời can hữu dụng tức xem thập thần thấu lên ở can giờ là hỷ là dụng tức hữu dụng, không nhất định phải là (thấu) Quan Sát. Dùng sinh vượng tử tuyệt của Quan Sát để giả định về số con, sau nữa xem thêm can giờ hỷ dụng đây là phép đoán linh hoạt và đặc thù không câu chấp. Dưới là mệnh của đại vương Vương Hiểu Lại (1886-1967), rất đông con:

        143 - Bát tự: Bính Tuất / Tân Sửu / Nhâm Ngọ / Mậu Thân
        Đại vận: Nhâm Dần - Quý Mão - Giáp Thìn - Ất Tị - Bính Ngọ - Đinh Mùi - Mậu Thân - Kỷ Dậu

        Mậu thổ Thất Sát, thấu ra can giờ, thổ cư trung ương, ký sinh ở Dần Thân, nên Thân cũng là sinh địa của thổ. Trường Sinh ca quyết luận có bốn con. Bính Tân tương hợp, Nhâm thủy thông nguồn, Thân vượng chống được Sát, còn ngày Nhâm tọa Ngọ, "Lộc Mã đồng hương", chọn Tài sinh Sát làm Dụng thần. Thời can hữu dụng, là tượng nhiều con; Tài là hỷ thần, cũng là tượng vợ đắc lực. Song từ ca quyết có gấp đôi lên cũng chỉ được tám con, còn Vương Quân có hơn 30 người con, thì xem theo cách nào đây?
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      8. Có 2 Hội viên đã cảm ơn đến "VULONG" về bài viết có ích này:

        ChucSonTu (26-01-14),diennien (26-01-14)

      9. #45
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        Chương 25 : Luận Hành Vận

        Nguyên văn: Phương pháp luận vận và xem mệnh cũng không khác nhau. Xem mệnh lấy can chi tứ trụ phối với hỷ kị nguyệt lệnh, còn thủ vận thì lại lấy can của vận phối hỷ kị Bát tự. Cho nên ở hành vận, mỗi vận là một chữ, tất lấy chữ này phối với can chi trong mệnh để thống nhất xem toàn cục, là hỷ hay là kỵ, cát hung phân rõ ra.

        Từ chú thích:
        Phú quý xác định ở mệnh, còn cùng đường hay hanh thông là ở vận, mệnh ví như hạt giống cây, còn vận như thời tiết làm hoa nở hay hoa rụng. Tuy mệnh tốt mà không gặp thời, như anh hùng không có đất dụng võ, ngược lại cũng có bát tự bình thường mà vận bổ trợ được khiếm khuyết mệnh cục thì cũng có thể thừa cơ quật khởi. Thế mới nói "Mệnh tốt không bằng vận tốt". Phương pháp xem mệnh thủ dụng có lẽ không ngoài các phương pháp Phù Ức, Khử Bệnh, Thông Quan, Điều Hậu, Trợ Vượng ( xem tiết Luận Dụng thần ). Phối hợp thủ vận cũng là trợ cái hỷ dụng của mình, bổ khuyết cái bất túc của mình, thành bại biến hóa, tổng thể là như nhau, nguyên văn hết sức rõ ràng không rườm rà. Riêng vận lấy phương làm trọng, tức quan trọng Dần Mão Thìn Đông phương, Tị Ngọ Mùi Nam phương, Thân Dậu Tuất Tây phương, hoặc Hợi Tý Sửu Bắc phương.

        - Như: Canh Thân Tân Dậu, Giáp Dần Ất Mão, hành can chi giống nhau, không có gì để nói.

        - Như: Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Dần, Đinh Mão, mộc hỏa đồng khí, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Thân, Quý Dậu, kim thủy đồng khí, là hỷ hay là kỵ thì tổng thể như nhau.

        - Như: Bính Tý Bính Thân, hỏa không thông gốc, Canh Dần Tân Mão, kim bất thông căn, thì lực của can nhỏ còn lực phương mạnh. Lúc này, can là hỷ thì phúc không đủ, là kỵ thì cái hại cũng không lớn.

        Cho nên xem đại vận cần phải hợp luận cả 10 năm, không thể chỉ lấy ra một chữ hỷ kỵ, rồi đoán kiểu thầy bói xem voi, gọt chân cho vừa giày.

        Nguyên văn:
        Hỷ là gì? Tức là trong mệnh được thập thần giúp ích nhưng thủ đắc được nó ta phải tìm cách trợ giúp cho nó có lực. Như trường hợp Quan cách dùng Ấn để chế Thương, mà vận trợ Ấn; Tài sinh Quan mà thân khinh, mà vận trợ thân; Ấn cách mà kèm theo Tài tưởng là kị, mà vận gặp được Kiếp tài; Thực đới Sát để thành cách, Thân khinh mà vận gặp Ấn, Sát trọng mà vận trợ Thực; Thương Quan bội Ấn, mà vận hành Quan Sát; Dương Nhận dụng Quan, mà vận trợ Tài hương; nguyệt Kiếp dụng Tài, mà vận hành Thương Thực. Các loại như thế đều là mỹ vận.

        Từ chú thích:
        Hỉ thần hoặc Dụng thần của mệnh được trợ giúp ở vận thì vận đó là một vận tốt. Quan cách kiến Thương là kị, dụng Ấn chế Thương để khử bệnh. Hành vận trợ Ấn nghĩa là, như mộc là Ấn, mà hành vận Đông phương Giáp Ất.

        Như Ấn lộ Thương tàng, Quan Sát vận cũng tốt. Thương lộ Ấn tàng, kỵ gặp Quan Sát, mà gặp Tài vận phá Ấn là tối kị.

        Thân nhược dụng Ấn, kèm theo Tài là kỵ, vận hành Kiếp tài khử được bệnh. Thân cường Ấn vượng, hỷ Tài tổn Ấn, ắt hẳn vận Tài tốt đẹp, và kị vận Kiếp tài.

        Thực Thần đới Sát, Thân nhược gặp khắc tiết lẫn lộn, vận gặp Ấn thụ, chế Thương hóa Sát trợ thân, chỉ một vận Ấn mà đạt được cả ba mục đích nên tốt đẹp; nếu Thân cường Sát vượng, lấy Thực chế Sát làm dụng, lúc này lại hỷ hành vận Thực Thương.

        Thương Quan bội Ấn, nguyệt lệnh Thương Quan, Nhật nguyên giữ Ấn, Ấn lộ thông căn, vận hành Quan Sát sinh cho Ấn thụ nên là mỹ vận, nhưng nếu Ấn tàng Thương lộ thì lại kị gặp Quan Sát. Hơn nữa, Thương Quan thái vượng, vận hỷ Tài hương tiết khí Thương quan, Tứ trụ tuy bội Ấn mà không thành dụng thì không thể lấy việc gặp Quan Sát làm đẹp được.

        Dương Nhận dụng Quan Sát, mà nguyên cục Nhận vượng thì hỷ hành Tài hương sinh cho Quan Sát, nếu Nhận khinh mà Quan Sát trọng, ắt phải trợ Nhận. Nguyệt Kiếp dụng Tài, chỉ có Thực Thương là đẹp, nếu hành Tài vận, cần nguyên cục tứ trụ có Thực Thương mới được, tức mang ý thông quan.

        Đây chỉ là đại khái, xem thêm ở "Bát cách thủ vận" (chọn đường đi thích hợp cho bát cách) thì rõ.

        Nguyên văn:
        Kị là gì? Trong mệnh có kị tức là tồn tại yếu tố chống lại ta. Như Chính quan vô Ấn mà hành vận Thương; Tài không thấu Thực mà hành vận Sát; Ấn thụ dụng Quan, mà vận hợp Quan; Thực thần đới Sát mà vận hành Tài; Thất sát có Thực chế mà vận gặp Kiêu; Thương quan bội Ấn mà vận hành Tài; Dương nhận dụng Sát mà vận gặp Thực; Kiến Lộc dụng Quan mà vận gặp Thương. Các loại như thế đều là bại vận cả.

        Từ chú thích:
        Dụng thần hoặc Hỉ Thần cần được sinh trợ hoặc làm vượng lên, mà hành vận ức nó tức là nghịch vận. Như Chính quan làm dụng, lấy Tài sinh Quan làm hỷ, mà vận hành Thực Thương, nếu nguyên cục có Ấn thì còn có thể hồi khắc Thực Thương nhằm bảo hộ Quan tinh, còn như vô Ấn thì Dụng thần bị thương.

        Tài không thấu Thực, nghĩa là trụ có Thực thần mà không thấu chi. Vận hành Thất sát, nếu thấu Thực Thương, còn có thể hồi khắc nhằm bảo hộ Tài, không thấu thì Thực sinh Tài mà không chế Sát, làm cho Sát tiết Tài khí và còn công thân.

        Ấn thụ dụng Quan, tức là nguyệt lệnh Ấn thụ mà thấu Quan tinh, lấy Quan để sinh Ấn. Vận hợp Quan như Giáp sinh Tý nguyệt, thấu Tân làm dụng, mà vận hành Bính hỏa; Bính sinh Mão nguyệt, thấu Quý làm dụng, mà vận hành Mậu thổ. Hợp khử Quan tinh, là phá cách.

        Thực thần đới Sát, nghĩa là nguyệt lệnh Thực thần mà can hiện ra Sát. Vận hành Tài địa thì Tài hóa Thực để sinh Sát. Thất sát Thực chế là nguyệt lệnh Thất sát, chọn Thực chế Sát làm dụng. Vận hành đất Kiêu thì Kiêu đoạt Thực nhằm bảo hộ Sát, đều là phá cách.

        Nguyệt lệnh Thương quan, Thân cường dụng Tài, Thân nhược bội Ấn (đeo Ấn hộ vệ). Dụng Tài mà đi gặp đất Kiếp tài, cũng như bội Ấn mà vận gặp Tài phá Ấn đều là phá dụng.

        Dương nhận dụng Sát, kiến Lộc dụng Quan, đều là do nhật nguyên quá vượng chọn Quan Sát ức chế Lộc Nhận làm dụng, vận gặp Thực Thương, khử đi Quan Sát thì Lộc Nhận vì quá vượng mà tổn thương thân.

        Tóm lại, thủ vận và xem mệnh không phải là hai phương pháp khác nhau, Nhật nguyên là chủ, phù hợp với nhu yếu của mình là Dụng thần, còn trợ cho nhu yếu của mình là Hỷ thần, hành vận trợ hỷ dụng thần là vận tốt, chống lại nó là vận xấu.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      10. Có 2 Hội viên đã cảm ơn đến "VULONG" về bài viết có ích này:

        ChucSonTu (26-01-14),diennien (26-01-14)

      11. #46
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        Nguyên văn:
        Tưởng như có hỷ dụng mà thực ra là kị thần, là thế nào? Như Quan gặp Ấn vận, mà bản mệnh hợp mất Ấn, hoặc như Ấn gặp Quan vận, mà bản mệnh dụng Sát.

        Từ chú thích:
        Thường khi thủ vận tất phải chiếu cố thập thần trong tứ trụ, mới có thể định hỷ kị, thế mới nói là: "...ở hành vận, mỗi vận là một chữ, tất lấy chữ này phối với can chi trong mệnh để thống nhất xem toàn cục...". Quan gặp Ấn vận mà bị bản mệnh hợp mất, như ngày Giáp mộc, tháng Tân Dậu, năm Mậu Thìn, hành vận Quý thủy là Ấn, hình thành Mậu Quý hợp, chuyển [Ấn] thành thương Quan tinh. Dụng Quan tinh thì dùng Tài Ấn phụ trợ, còn như dụng Tài sinh Quan lại kị Ấn vận, do tiết khí của Quan, không nhất định phải bị hợp. Dụng Ấn gặp Quan vốn là cát vận, nhưng nguyên mệnh là Sát trọng Thân khinh, cách cục dụng Ấn hóa Sát tức lấy Ấn Kiếp phù cho thân là điều tốt, nhưng lại gặp vận Quan Sát đều chẳng thích hợp, chứ không chỉ luận Quan Sát hỗn tạp.

        Nguyên văn:
        Tưởng như gặp kị thần mà lại thành hỷ, là thế nào? Đó là, giả như Quan gặp Thương vận mà mệnh thấu Ấn; Tài hành Sát vận, mà mệnh thấu Thực.

        Từ chú thích:
        Dụng Quan tinh thì Thương quan là kị, nếu nguyên cục thấu Thực thần, thì có thể sinh Tài chế Sát, không ngại vận Quan Sát. Dụng Tài tinh thì Thất sát là kị, nếu nguyên cục thấu Thực thần, thì có thể sinh Tài chế Sát, không sợ gặp đất Quan Sát. Tuy không phải là vận tốt nhưng có "giải thần", chính là gặp hung hóa cát.

        Nguyên văn:
        Lại như "hữu hành Can nhi bất hành Chi" (hành vận được Can mà không được Chi), là sao ? Đó là: giả như Bính sinh tháng Tý, năm Hợi, gặp (vận) Bính Đinh thì giúp đỡ thân mệnh, gặp (vận) Tị Ngọ thì xung .

        Từ chú thích:
        Bính sinh tháng Tý, năm Hợi, Nhâm Quý thủy nắm lệnh thừa vượng, hành vận Bính Đinh là Tỉ Kiếp giúp Thân, hành vận Tị Ngọ, hỏa thất lệnh, là suy thần xung vượng, phản thành gia tăng thủy thế, chính là "hành vận được Can mà không được Chi".

        Nguyên văn:
        Lại hành vận được Chi mà không được Can là thế nào? Như Giáp sinh tháng Dậu, Tân kim thấu nhưng nếu Quan hãy còn nhược, gặp Thân Dậu thì Quan được gốc thêm chắc, gặp Canh Tân thì hỗn Sát, trùng Quan [Quan mạnh quá hóa thành ma quỷ hại mình].

        Từ chú thích:
        Đây là ý cần phân biệt vượng nhược của Quan tinh. Nếu Quan tinh nhược, vận đến Tây phương Thân Dậu là Quan tinh đắc địa, gặp Canh Tân làm hỗn Sát trùng Quan, dễ gây hỗn tạp. Nếu Quan tinh vượng thì Thân Dậu Canh Tân đều là kị cả. Lại cần phải biện thấu và không thấu, nếu Quan tinh nhược, tàng chi mà không thấu chi, vận gặp Tân là Quan tinh thấu thanh, không phải là trùng Quan.

        Nguyên văn:
        Lại có trường hợp cùng loại ngũ hành can mà không thể song hành là thế nào? Đó là giả như Đinh sinh tháng Hợi mà năm thấu Nhâm Quan, gặp Bính thì giúp thân, gặp Đinh thì hợp Quan.

        Từ chú thích:
        Hợp Sát là hỷ, hợp Quan là kị. Như Bính sinh tháng Hợi, thấu Nhâm là Sát, gặp Bính giúp thân, gặp Đinh hợp Sát, tuy đều là cát vận mà không giống nhau, bởi Bính chỉ trợ thân còn Đinh hợp Sát là quyền. Đinh sinh tháng Hợi, thấu Nhâm là Quan, gặp Bính giúp thân còn gặp Đinh hợp Quan là kị. Đinh sinh tháng Hợi thấu Nhâm lại thấu Mậu, là Quan tinh ngộ Thương, gặp Nhâm là Thương quan kiến Quan, gặp Quý thì hóa Thương làm Kiếp, chẳng những giúp thân mà còn giải tai ách cho Quan tinh. Có lẽ những trường hợp này cũng chưa đầy đủ và chi tiết, cần phải quan sát nguyên cục can chi Nhật chủ hỷ kỵ mà định.

        Nguyên văn:
        Lại có trường hợp cùng loại ngũ hành chi mà không thể song hành là thế nào? Như Mậu sinh tháng Mão, năm Sửu, gặp Thân thì tự tọa Trường-sinh, gặp Dậu thì sẽ hội Sửu thành Thương-quan.

        Từ chú thích:
        Biến hóa của chi so với Thiên can phức tạp hơn, như ví dụ trên Mậu sinh tháng Mão, sinh vào Tý, gặp Thân thì hội thành thủy sinh Quan, gặp Dậu thì thương khắc Quan tinh; Đinh sinh tháng Dậu gặp Ngọ là đất Lộc và Kiếp tài, gặp Tị thì sẽ thành Tài cục; Đinh sinh tháng Dậu năm Thìn, Thìn Dậu vốn có thể hợp kim mà lại sinh Tài, vận gặp Tý, Tý Thìn gặp nhau khởi thủy cục, phản thành tiết Tài khí. Nguyên văn này cũng chưa đầy đủ và chi tiết.

        Nguyên văn:
        Lại cùng là tương xung mà phân ra hòa hoãn và cấp thiết là sao vậy? Xung niên nguyệt thì cấp thiết, xung nhật thời thì hòa hoãn.

        Từ chú thích:
        Không thể nói vỏn vẹn một câu như thế mà rõ được, thực ra xung đề cương nguyệt lệnh có vai trò quan trọng, ngoài ra xung các trụ khác thì bình thường; xung hỷ dụng cũng quan trọng, còn xung các chổ không phải dụng thì lại bình thường. Lại phải phân biệt tính chất chi xung, bởi thế tứ sinh Dần Thân Tị Hợi xung nhau cần coi trọng, do khí hãy còn yếu ớt, gặp xung thì tan tác; Tý Ngọ Mão Dậu khí chuyên và vượng, khi xung thì thành hay bại tùy theo cục mà định; còn Thìn Tuất Sửu Mùi là như anh em bạn bè xung khắc nhau, không lấy làm quan trọng. Cho nên Trích Thiên Tủy mới nói "sinh phương phạ động khố nghi khai, bại địa phùng xung tử tế suy" (tứ sinh sợ động, tứ khố cần được xung mở, tứ bại địa gặp xung phải cẩn thận suy tường).

        Nguyên văn:
        Lại có khi cùng xung nhau mà phải phân nặng nhẹ là thế nào? Vận vốn đẹp mà gặp xung thì bình thường, vận vốn kị còn xung (hỷ) thì phải quan tâm.

        Từ chú thích:
        Xung khắc cần xem hỷ hay kị, vận hỷ mà xung kị thì bình thường, vận kị mà xung hỷ thì phải lấy làm quan trọng. Hơn nữa cần coi xét lưu niên, giả sử đại vận tuy là hỷ và lưu niên cùng xung cũng không tốt.

        Nguyên văn:
        Lại có trường hợp gặp xung mà không xung, tại sao vậy? Như trường hợp Giáp dụng Dậu làm Quan, hành vận Mão thì xung, trong mệnh nếu có Tị Dậu hội nhau thì xung vô lực; niên chi Hợi Mùi, thì gặp Mão là hội nhau mà không xung nguyệt Quan.

        Từ chú thích:
        Gặp xung mà không xung là vì có hội hợp giải xung. Giáp dụng Dậu Quan, nguyên cục có Tị Sửu, thì Quan tinh hội cục, Mão xung vô lực; nguyên cục có Hợi hoặc Mùi, vận đến Mão thì tam hợp hội cục thành ra không xung. (Đọc thêm phần: hình xung hội hợp giải pháp).

        Nguyên văn:
        Lại có trường hợp một xung mà thành lưỡng xung là tại sao? Như Ất dụng Thân Quan, hai Thân cùng không xung một Dần, vận lại gặp Dần, thì vận và bản mệnh hợp thành nhị Dần, xung nhị Thân.

        Từ chú thích:
        Nói lưỡng Thân không xung một Dần thì không thể tin hết được. Xung vốn bao gồm cả khắc, Dần tức là Giáp, Canh tức là Thân, Giáp gặp lưỡng Canh, chẳng phải khắc nhau sao? Đặc biệt lưỡng Thân một Dần, khí bất chuyên, ví như lưỡng Canh một Ất, là đố hợp (hai Canh đố kị nhau vì cùng hợp một Ất) cũng thành ra bất chuyên, vận lại gặp Ất, thì mỗi Canh hợp với một Ất mà thành ra tình chuyên. Xung cũng như thế, vận gặp thêm Dần, nhân nhất xung mà dẫn tới lưỡng xung (Đọc thêm phần: hình xung hội hợp giải pháp).

        Đây đều là các phương pháp quan trọng, nhằm chuẩn bị cho chương các cách thủ vận sẽ đề cập chi tiết, tỉ mỉ hơn.

        (hết chương 25 ?).

        Hy vọng có ai đăng giúp tiếp các chương còn thiếu từ 26 đến 37 còn các chương từ 38 đến 48 tôi sẽ đăng. Khi đăng xin vui lòng đánh dấu tiếp số thứ tự của các ví dụ.

        Tôi xin chân thành cám ơn trước.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      12. Có 2 Hội viên đã cảm ơn đến "VULONG" về bài viết có ích này:

        ChucSonTu (26-01-14),diennien (26-01-14)

      13. #47
        Tham gia ngày
        Jan 2011
        Đến từ
        Germany
        Bài gửi
        841
        Cảm ơn
        4
        Được cảm ơn: 653 lần
        trong 400 bài viết

        Default

        Nick Hjmama vừa cho tôi biết toàn bộ cuốn sách này có ở chủ đề "Mục Lục Tử Bình Chân Thyên Bình Chú" bên trang web "Kim Tử Bình" (cứ nhấn con chuột vào các chương là có ngay chương đó).
        thay đổi nội dung bởi: VULONG, 26-01-14 lúc 20:07
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      14. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      15. #48
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 26. Luận hành vận thành cách, biến cách

        Nguyên văn:
        Cách cục của mệnh hình thành từ Bát tự, nhưng khi phối với vận, cũng tùy đó mà thành cách hay biến cách. Khi thành cách, biến cách, so với hỷ kị thì họa phúc cũng tăng mạnh.

        Từ chú thích:
        Cách cục của bát tự có Thành cách và Không thành cách. Gặp vận phối hợp liền biến hóa, hỷ kị hay họa phúc không theo thường lý mà suy đoán được, do đó, hành vận trợ dụng hay hại dụng cũng khác theo. Chỉ có điều loại mệnh-vận này không thường thấy, như tứ trụ của một người cùng quê Diêu Văn Phu:

        Tân Mùi/ Giáp Ngọ/ Bính Thân/ Mậu Tuất

        Quý Tị- Nhâm Thìn- Tân Mão- Canh Dần- Kỷ Sửu- Mậu Tý

        Nguyệt lệnh Dương nhận, Bính đóng ở chi Thân, vượng mà bất vượng, tuy lấy Thực thần làm dụng, e rằng rốt cuộc khí thế không đủ. Đến vận Dần, cách cục liền biến hóa, Dần Ngọ Tuất tam hợp, thân vượng được tiết tú, là Dương nhận dụng Thực, khí thế hết sức khác biệt, cách cục lập tức chuyển thanh thuần. Do nguyên cục Ngọ Tuất bán hợp bị cách bởi chi Thân, gặp Dần xung để tập hợp hỏa cục, bằng không, không thể khử Thân để biến đổi được.

        Ông Diêu tại vận này (36 tuổi - vận Canh dần), một bước trở thành ủy viên Lưỡng Hoài Diêm. Đặc biệt loại mệnh này cần nguyên cục phải tốt, cách đã hình thành nhưng chưa hoàn toàn, gặp vận mới thành cách đầy đủ. Đã có thể biến thành quý cách, cũng có thể chuyển thành tiện cách, phúc hay là họa so ra càng mạnh. Nếu nguyên cục không tốt thì lên voi xuống chó, khác biệt không đủ.

        Nguyên văn:
        Như thế nào là Thành cách? Mệnh vốn có Dụng thần, thành cách mà chưa hoàn toàn, do đó cần thứ góp vào cho trọn vẹn. Như Đinh sinh tháng Thìn, thấu Nhâm là Quan, mà vận gặp Thân Tý để thành tam hợp; Ất sinh tháng thìn, có Thân hoặc Tý hội Ấn thành cục, mà vận gặp Nhâm Quý thấu ra. Các trường hợp như thế đều là Thành cách.

        Từ chú thích:
        Đinh sinh tháng thìn, Nhâm thủy Mộ khố, tuy dụng Quan tinh nhưng gốc chưa chắc, vận gặp Thân Tý, thì gốc Quan tinh mới vững để thể hiện sức lực. Ất sinh tháng thìn, tuy hội thủy cục nhưng Ấn tinh pha tạp, vận gặp Nhâm Quý thì Ấn mới thấu thanh. Đây là "bổ kỳ bất túc" (bổ khuyết nhược điểm), cách cục bởi vậy mà thành.

        Nguyên văn:
        Như thế nào Biến cách? Như Đinh sinh tháng thìn, thấu Nhâm là Quan, mà vận gặp Mậu, tức Thương quan trong Thìn thấu ra; Nhâm sinh Tuất nguyệt, Đinh Kỷ tịnh thấu, mà chi lại hội Dần hội Ngọ, thành Tài vượng sinh Quan, mà vận gặp Mậu thổ, tức Thất sát trong Tuất thấu ra; Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ quan làm dụng, thành kiến Lộc dụng Quan, mà vận gặp Mão Mùi, hội Hợi thành mộc, lại hóa thành cách kiến Lộc làm Thương quan. Các trường hợp như thế đều là Biến cách.

        Từ chú thích:
        Nguyên cục Địa chi vốn tàng, gặp vận làm thấu lên, lực của nó rất mạnh. Cho nên Đinh sinh Thìn nguyệt, thấu Nhâm dụng Quan, mà vận Mậu là nguyên cục Quan kiến Thương quan (chứ không phải xuất hiện cách cục thứ hai). Nhâm sinh Tuất nguyệt, Đinh Kỷ tịnh thấu dụng Quan, vận kiến Mậu thổ, nguyên cục Quan gặp Sát làm hỗn tạp. Đây là hành vận phá hoại dụng thần, chứ không phải biến hóa cách cục. Nếu Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ là kiến Lộc dụng Quan, mà vận gặp Dần Mão, là kiến Lộc hóa Thương, cách cục đã biến hóa (Đầu tiết có dẫn chứng tứ trụ ông Diêu, là do xung mà biến hóa, cũng chính là vì hội hợp mà biến). Giả sử có 5 năm vận hành Mùi, Hợi Mùi tuy hội nhưng hư hão bất thực, và Kỷ thổ Quan tinh đắc địa, cách cục biến mà không biến vậy.

        Nguyên văn:
        Nhưng cũng gặp trường hợp thành cách mà không hỷ là sao vậy? Như Nhâm sinh Ngọ nguyệt, vận thấu Kỷ Quan mà bản mệnh lại có Giáp, Ất.

        Từ chú thích:
        Nhâm sinh Ngọ nguyệt, vận gặp Kỷ thổ, Quan tinh thấu thanh, nguyên cục thấu Giáp, thì Quan tinh bị hồi khắc thành vô dụng. Nếu nguyên cục Đinh Giáp tịnh thấu thì Tài gặp Thực sinh làm dụng, thì Kỷ thổ hợp Giáp, phản thương hỉ thần thành kị vậy.

        Nguyên văn:
        Lại có khi gặp biến cách mà không kị là thế nào? Đó là như Đinh sinh tháng thìn, thấu Nhâm dụng Quan, gặp Mậu mà mệnh có Giáp; Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ dụng Quan, vận gặp Mão Mùi, mà mệnh lại có Canh Tân.

        Từ chú thích:
        Đinh sinh tháng Thìn, Nhâm Giáp tịnh thấu, nguyệt Ấn hộ Quan nên không ngại vận Thương quan; Nhâm sinh Hợi nguyệt, Quan thấu mà địa chi hữu Thân Dậu là Ấn, thì vận gặp Dần Mão, là có Thân Dậu hồi xung, không thể hội cục biến cách. Canh Tân, cũng tức là Thân Dậu, vận gặp Mùi thì bản cục hỏng. Xem phần biến cách phía trước.

        Nguyên văn:
        Thành cách biến cách, có quan hệ rất lớn với vận, khi thủ vận phải kỹ càng, cặn kẽ.

        Từ chú thích:
        Khi phối hợp ở vận, có sự tương đồng giữa vận và nguyên cục thì chẳng có quan hệ lớn.

        (Người dịch: cleaner)
        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      16. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      17. #49
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 27.

        Luận phân biệt hỷ kị của can và chi

        Nguyên văn:
        Hỷ hay kị tuy đều có ở chi và can nhưng can chủ thiên, động và nhiều hứa hẹn tiến triển; còn chi chủ địa, tĩnh mà ẩn tàng chờ thời, can chỉ một mà chi tàng nhiều, là phúc hay hoạ lẽ nào không có phân biệt?

        Từ chú thích:
        Lưỡng can không song hành, lưỡng chi cũng không song hành, tiết Hành vận đã đề cập rồi, vận lấy phương làm trọng, tức phương hướng của Địa chi, như Dần Mão Thìn đông phương, Tị Ngọ Mùi nam phương, Thân Dậu Tuất tây phương, Hợi Tý Sửu bắc phương. Hành vận thập niên hợp luận, Canh Dần Canh Ngọ, kim bất thông căn, khí mộc hỏa làm trọng; Bính Tý Bính Thân, hỏa bất thông căn, khí kim thủy làm trọng. Nếu Canh Thìn Tân Sửu, kim được thổ sinh, Bính Dần Đinh Mão, hỏa được mộc sinh, tức lực của can mạnh. Đây là tổng luận về lực của can chi, nếu phân biệt ra can và chi, nguyên cục hỷ ở khử Bệnh thì lực của can chuyên (không phân tán); (nguyên cục) hỷ ở đắc địa, thì lực của chi là tốt đẹp. Về phần khác nhau giữa can chi hỷ kị xem dưới thì rõ.

        Nguyên văn:
        Thí dụ như Giáp mộc, dụng Dậu Quan, gặp Canh Tân thì Quan Sát hỗn tạp, còn Thân Dậu không gây tạp, Thân là vượng địa của Tân, Tân tọa Thân Dậu như ngồi phủ quan mà còn giữ ấn tín. Giáp gặp hai Tân thì phạm Quan quá nặng, còn phùng nhị Dậu thì không phải. Tân tọa nhị Dậu như một phủ mà cai trị hai quận, thấu Đinh thì Thương quan, còn gặp Ngọ thì không vậy. Đinh động còn Ngọ tĩnh, vả lại Đinh Kỷ cùng tàng trong ngọ, lẽ nào quản cả Tài (Kỷ).

        Từ chú thích:
        Quan Sát tức là như huynh đệ, đối nội thì chia thứ bậc gia đình, đối ngoại thì hợp lực đồng tâm. Thân Dậu kim là căn gốc (của Canh Tân), là nhà của Quan mà cũng là nhà của Sát, cho nên Giáp dụng Tân Quan, Canh Tân tịnh thấu là hỗn tạp, Thân Dậu tịnh kiến, không luận tạp. Nhị Tân tịnh kiến là phạm Quan nặng, nhị Dậu tịnh kiến thì không thế. Quan Sát tịnh kiến, không nhất định coi là hỗn tạp (tường kiến “Trích Thiên Tủy chứng nghĩa”), mà hỗn tạp cũng không nhất định cho là kị. Tổng thể, dụng Ấn hóa Sát bất kị hỗn Quan; dụng Tài sinh Quan thì kị hỗn Sát; dụng Thực chế Sát, mà nguyên cục Quan Sát đều thấy thì nhiều Quan tòng theo Sát, cũng không luận kị.

        Lý luận nguyên cục Bát tự như thế thì hành vận cũng vậy, Giáp dụng Dậu Quan mà thấu Tân, hành vận kiến Canh làm hỗn tạp, kiến Thân không cho là tạp; khi kiến Tân là phạm nặng thì kiến chi Dậu thì không phạm nặng. Giáp dụng Dậu Quan mà thấu Kỷ thổ, kiến Đinh là Thương quan, kiến Ngọ thì Kỷ thổ Tài tinh đắc Lộc, không luận (ngọ) Thương. Can chi hỷ kị, cần phải phối hợp với nguyên cục. Thí dụ như Giáp dụng Dậu Quan, Quan tàng Tài lộ, kiến Giáp Ất thì tranh đoạt Tài, kiến Dần Mão thì lại giúp thân. Giáp dụng Kỷ Tài, Tài lộ thì kị can kiến Tỉ Kiếp, còn địa chi bất kị, trường hợp này nếu nguyên cục Quan tinh thấu hoặc Thực Thương thấu, can có thần chế hóa (Tỉ Kiếp) thì cũng không kị nữa. Giáp dụng Quý Ấn, kiến Mậu Kỷ là Tài phá Ấn, mà kiến tứ khố thì không luận thế. Tương tự cứ thế mà suy.

        Nguyên văn:
        Nhưng cũng có khi địa chi tạo phúc hoặc gây họa, sao vậy? Đó là, giả như Giáp dụng Dậu làm Quan, gặp Ngọ thì Dậu chưa tổn thương, nhưng lại ngộ Dần ngộ Tuất và không bị phân cách (Ngọ Tuất hoặc Ngọ Dần kế nhau) thì hợp khiến hỏa động, cũng gây tổn thương vậy. Mặt khác, giả như Giáp sinh Thân nguyệt, Ngọ bất chế Sát, hội Dần hội Tuất, bán hợp thanh cục nhưng hỏa động, cũng khả năng thương Sát vậy. Như thế, ắt hẳn hội cũng sẽ động, đó là điểm khác biệt giữa phương chính và thiên can. Ở đây chỉ bàn một ý, phần còn lại cứ thế mà suy.

        Từ chú thích:
        Địa chi vì xung mà động, vì hội cũng động, động ví như hành động cúng tế cầu mong tổ tiên giáng phúc. Như Giáp dụng chi Dậu Quan mà Tân thấu xuất, tuy xuất hiện chi khác là Ngọ cũng không thể thương Quan tinh; song vận ngộ Dần Tuất hội cục thì hỏa động thương Quan. Giáp dụng Thân Sát và có Canh thấu ra, địa chi lại gặp Ngọ, cũng không thể chế Sát; nhưng vận ngộ Dần Tuất hội cục, hỏa động lại chế Sát. Nhưng đây chỉ nói đến Can Chi cách nhau thôi, nếu Tân kim không thấu, Ngọ Dậu sát nhau, Quan tinh chưa chắc không bị tổn thương, chỉ có điều địa chi gần nhau khi không động thì lực không rõ ràng, không thể so với can chi động lực mạnh. Bây giờ chọn một ví dụ xem xét hành vận can chi bất đồng:

        Đinh Hợi / Ất Tị / Đinh Dậu / Giáp Thìn

        Giáp Thìn - Quý Mão - Nhâm Dần - Tân Sửu - Canh Tý - Kỷ Hợi

        Sinh năm Thanh - Quang Tự thứ 13, ngày 10 tháng tư nhuận, giờ Thìn. Đây là tứ trụ của Triệu Thiết Kiều (1887-1930), Tổng biện Chiêu Thương cục (Tổng giám sát và quản lý tập đoàn tàu biển lớn nhất bấy giờ). Tài cách bội Ấn, Tị Dậu hợp hóa Tài, Giáp Ất thấu can nên Tài không bị Ấn cản trở. Hành vận Tân kim tàng trong Dậu thấu thanh, Tân là nhu kim bất thương Giáp mộc; Tị Dậu Sửu, tam hợp kim cục, mang địa vị Tổng biện sang quý. Ở đây gọi là do hội mà động, tức có khả năng tác họa, tạo phúc. Đến vận Canh, hợp Ất thương Giáp và Ấn cùng bị phá cho nên bị ám sát mà chết (*).


        Mậu Ngọ / Ất Mão / Nhâm Tý / Canh Tý

        Bính Thìn - Đinh Tị -Mậu Ngọ -Kỷ Mùi - Canh Thân -Tân Dậu -Nhâm Tuất

        Sinh năm Thanh - Hàm Phong thứ 8, ngày 6 tháng 2 giờ Tý, là mệnh của Khương Hữu Vi
        (1858-1927). Thủy mộc Thương quan, song thủy vượng mộc phù, có Mậu thổ chế thủy vì thế mộc được sinh, do đó thủ Sát chế Nhận làm Dụng thần. Ngọ vận xung Tý, chỉ nhất xung mà tạo ra lưỡng xung, Hỉ thần xung kị, danh tiếng nổi như cồn. Kỷ Mùi can chi đều thổ, đúng là Kỷ có tác dụng trợ Sát chế Nhận, nhưng Mùi vận hội Mão hóa mộc, hỷ hóa thành kị, Thương quan động thành chế Sát. Chính biến Mậu Tuất (1898) **, 41 tuổi nhập ngay Mùi vận, may mắn lưu niên Mậu Tuất cát nên tưởng chết mà lại chạy thoát.


        Đinh Mùi / Giáp Thìn / Kỷ Dậu / Mậu ThìnQuý Mão -Nhâm Dần -Tân Sửu -Canh Tý - Kỷ Hợi -Mậu Tuất

        Đây là tứ trụ của một người cháu, Giáp Kỷ hóa thổ cách. Mậu thổ nguyên thần lộ ra, niên thượng Đinh hỏa trợ hóa, cách cục cực chân (rất chân thực), lấy Đinh hỏa Thiên Ấn làm Dụng thần. Những vận đầu Dần Mão, hóa thần hoàn nguyên (trở về trạng thái cũ) và Nhâm Quý thương dụng đều không phải mỹ vận. Song, xét vận Nhâm Quý lại có Mậu thổ hồi khắc, Mão vận lại đắc Dậu kim hồi xung, tức nguyên cục có cứu ứng, gặp hung hóa cát. Đến Dần vận, Giáp mộc đắc Lộc, hóa thần hoàn nguyên, tứ trụ vô cứu thất bại thảm hại. Có thể thấy được điểm mấu chốt của hành vận cứu ứng.

        -----

        Chú thích của người dịch:
        (*) Năm 1927, hai đảng Quốc dân và Cộng sản hợp tác lần thứ nhất, tiến hành “Bắc phạt”, Vương Á Tiều cùng Lưu Tinh Ngô đưa hơn 1000 quân từ An Huy tham gia, tấn công Hợp Phì, An Khánh. Tướng quân phiệt An Huy lúc này là Trần Điều Nguyên cho quân vây Vương Á Tiều ở hồ Hồng Trạch, hai bên giằng co suốt mấy tháng.

        Mùa xuân năm 1928, Vương dẫn 10 thuộc hạ phá vòng vây chạy về Nam Kinh. Sau sự kiện “12/4” (Quốc Dân đảng mượn tay Thanh Bang do Đỗ Nguyệt Thăng cầm đầu thảm sát công nhân Thượng Hải), Tưởng Giới Thạch tuyên bố thành lập chính phủ Quốc dân ở Nam Kinh. Tại lễ “định đô” long trọng tổ chức tại công viên Trung Sơn, Vương Á Tiều lấy danh nghĩa là đại diện cho giới công nhân phát biểu, có nhiều lời chỉ trích Tưởng Giới Thạch. Nổi giận, Tưởng mật lệnh cho chỉ huy trưởng cảnh sát TP Nam Kinh là Ôn Kiếm Cương truy bắt Vương Á Tiều. Vương nhanh chân thoát được, trốn về Thượng Hải.

        Năm 1929, chính phủ Quốc dân đề xuất quốc hữu hóa ngành tàu biển, Triệu Thiết Kiều, ủy viên Đồng minh hội được cử làm Tổng biện Chiêu Thương Cục. Chủ tịch hội đồng quản trị Chiêu Thương Cục là Lý Quốc Kiệt thấy mất dần quyền lực, căm hận trong lòng, nhờ em là Lý Thiếu Xuyên thỉnh Vương Á Tiều giết Triệu Thiết Kiều với giá 15.000 đồng.

        Khoảng 8 giờ sáng ngày 24/7/1930, Triệu Thiết Kiều vừa xuống xe thì bị tay chân Vương Á Tiều bắn chết.

        (Trích từ: Đới Lạp, "Đệ nhất sát thủ" của Tưởng Giới Thạch
        http://phunutoday.vn/xahoiol/201104/doi ... h-1988216/ )


        (**)Biến pháp Mậu Tuất 1898: là cuộc vận động cải cách chính trị - xã hội ở Trung Quốc do Khang Hữu Vi (Kang Youwei), Lương Khải Siêu (Liang Qichao) chủ trương. Vua Quang Tự (Guangxu) tán thành đường lối cải cách. Từ 6.1898, đã trực tiếp ban hành lệnh cải cách chế độ quan lại, giảm biên chế hành chính, khuyến khích phát triển kinh tế dân tộc, làm đường sắt, lập hệ thống giáo dục mới, huấn luyện quân đội theo kiểu phương Tây…, định đổi niên hiệu thành Duy Tân (Weixin) và dời đô về Thượng Hải (Shanghai). Phái bảo thủ do Từ Hi thái hậu (Cixi Taihou) cầm đầu đã bắt giam Quang Tự và đàn áp các thủ lĩnh phong trào. Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu trốn sang Nhật Bản. Phong trào thất bại. Sau này, sử sách gọi cuộc cải cách này là "Bách nhật duy tân" (cuộc cải cách 100 ngày), "chính biến Mậu Tuất".
        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      18. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      19. #50
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 28.
        Luận chi trung hỷ kị phùng vận thấu thanh
        (Luận hỷ kị thần tàng trong chi gặp vận thấu ra thanh thuần)


        Nguyên văn:
        Hỷ kị thần là thiên can tàng trong chi so với hỷ kị thần thiên can cơ bản có sự khác biệt, khi vận gặp thấu thanh, vốn đang tĩnh nằm đợi thời, thì chính là lúc dụng được nó, ứng nghiệm của hỷ kị sẽ thấy ngay. Vậy thấu thanh là gì? Đó là, giả như Giáp dụng Dậu Quan, gặp Thìn Mùi tức là Tài, mà vận thấu Mậu; gặp Ngọ Mùi tức là Thương, mà vận thấu Đinh.

        Từ chú thích:
        Trong nguyên cục tàng các thần không đồng nhất, là hỷ là kị, tĩnh lặng chờ thời gặp được vận dẫn xuất thì cái dụng mới thành hiện thực. Như tứ trụ Khang Hữu Vi bên trên, nguyên cục Đinh Kỷ tàng trong Ngọ, vận gặp chữ Kỷ thì Kỷ thổ dẫn xuất đắc dụng, lực Quan Sát chế Nhận mới biểu lộ rõ ràng.

        Nếu hai chi mệnh và vận hội thành cục cũng luận thanh thuần. Như Giáp dụng Dậu Quan, bản mệnh có Ngọ, mà vận gặp Dần Tuất (thành hỏa cục). Nhưng tại niên mới có vai trò quan trọng, tại nhật chỉ bình thường, còn giả như sinh vào giờ Ngọ, mà vận gặp Dần Tuất hội cục, thì hoãn không luận vội. Tuy xác định cách thành bại cao thấp, Bát tự đã có định luận, và so với cái vốn có của mệnh thường tồn tại bất đồng, nhưng mà trong 5 năm địa chi vận này cũng vẫn có thể luận họa phúc. Trường hợp thần ở nguyệt lệnh mà gặp vận thấu thanh, thì so với cái vốn có của mệnh không phải là không liên quan với nhau, chính là cái mà chương trước gọi là hành vận thành cách biến cách.

        Mệnh và vận hội cục, như ở tứ trụ Khang, Mùi là hỏa thổ vận hội Mão mà thành mộc cục, hóa ra Thương phá cách. Đây là phương pháp thủ vận, tùy trường hợp mà xử trí.

        Như:

        Đinh Sửu / Đinh Mùi / Đinh Dậu / Đinh Mùi
        Bính Ngọ - Ất Tị - Giáp Thìn - Quý Mão - Nhâm Dần

        Đây là mệnh một ông anh họ Diêu. Hỏa vượng ngộ kim (Tài) mà lại được Thực thần sinh cho là phú cách Thực thần sinh Tài. Hỏa vượng kim suy, đến Tị vận, tam hợp Tị Dậu Sửu đủ mặt, (hoạt năng của kim mạnh nhất) nên đây là vận đắc ý nhất trong cuộc đời, các vận còn lại thì đều hết sức khó khăn. Mão vận hội Mùi, Kị thần thấu thanh phát động, qua đời.

        Khi gặp vận thấu thanh hoặc hội hợp, thì những thay đổi so với khuôn mệnh không quá khác biệt, đặc biệt chỉ khoảng 5 năm mà thôi, qua hết 5 năm thì trở lại như cũ. Về phần địa chi hội hợp tại niên hoặc tại nhật hay thời thì không nên câu chấp. Tóm lại, hỷ kị là thần mang tính chất thanh thuần thì ứng nghiệm cát hung rõ ràng ngay, nếu là nhàn thần và hỗn tạp thì quan hệ không quan trọng.

        Nguyên văn:
        Cho nên thường cầm một Bát tự trên tay, lần lượt phải xét toàn bộ can chi, trên dưới để xem. Chi là sinh địa của can, can là thể hiện của chi, như trong mệnh có một chữ Giáp thì tổng quan tứ chi xem có Dần Hợi Mão Mùi không, nếu có một chữ thì Giáp có gốc (hữu căn). Hay như có một chữ Hợi thì tổng quan tứ chi xem có hai chữ Nhâm Giáp không, có Nhâm thì Hợi là lộc của Nhâm, Nhâm thủy dụng được; dụng Giáp thì Hợi là sinh địa của Giáp, dụng Giáp mộc được; cùng dụng Nhâm Giáp thì một lấy lộc làm gốc, một lấy Trường sinh làm gốc, cả hai cùng dụng được. Khi thủ vận cũng dùng phương pháp này, tức đem bản mệnh Bát tự lần lượt phối hợp can chi mà định.

        Từ chú thích:
        Hai câu "Chi là sinh địa của can, can là thể hiện của chi" thực là phương pháp cốt yếu để xem mệnh, còn nói tịnh thấu kiêm dụng thì dường như chưa đầy đủ. Địa chi tuy tàng nhiều nhưng phải tuân theo thứ tự, như Dần tàng Giáp Bính Mậu thì Giáp là khí đang vượng (đương vượng chi khí), Bính là khí phương sinh (phương sinh chi khí), còn Mậu là khí ký sinh (ký sinh chi khí), thứ tự đầu tiên là Giáp, sau là Bính, sau nữa mới đến Mậu, đây là điều hiển nhiên dễ thấy. Lại như Thìn tàng 3 thần là Mậu Ất Quý, thì Mậu là bản khí của thổ, Ất mộc là dư khí xuân, còn Quý là mộ của thủy. Tiên xét Mậu, thứ đến là Ất, sau nữa mới đến Quý, thứ tự cũng hiển nhiên dễ thấy.

        Như:
        Giáp Dần / Bính Dần / Canh Dần / Mậu Dần
        Tân Mão - Nhâm Thìn - Quý Tị - Giáp Ngọ - Ất Mùi

        Giáp Bính Mậu trong Dần đều thấu ra, nhưng Địa chi toàn Dần, Giáp mộc đương vượng, liền lấy tòng Tài làm dụng. Nếu Địa chi Dần Ngọ hội cục thì lấy Bính hỏa làm dụng rồi.

        Như:
        Mậu Thìn / Giáp Dần / Nhâm Tuất / Bính Ngọ
        Ất Mão - Bính Thìn - Đinh Tị - Mậu Ngọ - Kỷ Mùi - Canh Thân

        Mệnh này là của Thí Tái Thôn (1), người Chiết Đông (tên gọi tỉnh Chiết Giang thời nhà Đường). Giáp Bính Mậu trong Dần tề thấu còn chi gặp Dần Ngọ Tuất tam hợp hội cục, lấy Bính hỏa tòng Tài làm dụng thần.

        Gọi là tịnh dụng, chính là một làm dụng thần, còn một làm tướng thần, không được nhầm lẫn. Cũng có trường hợp tuy thấu mà không dùng được, như tứ trụ của Bành Ngọc Lân (2), Mậu sinh tháng Sửu, Tân Quý tịnh thấu mà lại dụng Bính hỏa; hoặc mệnh của Ngũ Triêu Xu (3), Nhâm sinh tháng Ngọ, Đinh Kỷ tịnh thấu mà lại dụng Dậu Ấn (chi tiết tại chương "Thành trung hữu bại" và "Phối khí hậu đắc thất"). Có thể thấy phương pháp thủ dụng phải nghiệm và quan sát toàn cục, phối hợp nhu yếu của nhật nguyên để biến thông thì mới không lâm vào tình trạng lý luận ngớ ngẩn.

        --

        (1) Thí Tái Thôn:

        Sinh ngày 06/02/1868, AL là ngày 13 tháng giêng năm Mậu thìn, giờ Ngọ. Sách sử không thấy ghi về người này, chỉ thấy trong Trích Thiên Tủy bổ chú của Từ Nhạc Ngô, luận rằng: "Vận hành nam phương, kiếm tiền trăm vạn, có danh tiếng trong giới tài chính. Đến Canh thân vận, xuống dốc không phanh, tài hao lộc tuyệt.". Người này sống cuối đời nhà Thanh, đầu thời kỳ Dân quốc, là phú thương địa khu Chiết Đông. Hai mươi mấy tuổi thì bắt đầu giàu có, khoảng năm mươi tuổi thì kiếm tiền trên trăm vạn, khoảng năm mươi mấy tuổi thì phá sản, nhân đó mà qua đời.


        (2) Bành Ngọc Lân (Peng Yulin)

        Bính Tý / Tân Sửu / Mậu Tý / Quý Sửu

        Bành Ngọc Lân là một danh tướng Trung Hoa cuối đời Thanh, sinh năm 1816, mất năm 1890. Khi cuộc loạn Thái Bình Thiên Quốc (với những lãnh tụ Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh …) bùng nổ, chiếm gần nửa nước Trung Hoa, lấy được Nam kinh để lập kinh đô và chia đôi giang sơn với nhà Thanh trong 11 năm từ 1853 tới 1864, triều đình nhà Thanh đã rung rinh, đất nước cực kỳ xáo trộn. Góp công đáng kể nhất trong việc dẹp yên được Thái Bình Thiên Quốc là một nhân sĩ tỉnh Hồ nam là Tăng Quốc Phiên (Zeng Guofan) cùng đạo quân tình nguyện của ông, đa số gốc Hồ nam, lấy tên là "Tương quân" ("quân đội vùng sông Tương", một con sông chảy qua tỉnh Hồ nam). Bành Ngọc Lân là một tướng lãnh của đạo quân tình nguyện ấy, chỉ huy thủy binh, có công rất lớn trong việc dẹp Thái Bình Thiên Quốc. Sau đó ông được cử làm Thủy sư Đô đốc, dần dần thăng tới Binh bộ Thượng thư của nhà Thanh (có thời kỳ ông làm quan Cung Bảo, trấn giữ sông Trấn Giang). Sau khi người Pháp lấy miền Bắc Việt Nam và đem quân tới biên giới Hoa Việt năm 1883-84, Bành Ngọc Lân đã tới biên giới trong chức Binh bộ Thượng thư để quan sát cùng tổ chức việc phòng thủ. Ông về hưu và mất ít năm sau đó.


        (3) Ngũ Triêu Xu:

        Đinh Hợi / Bính Ngọ / Nhâm Dần / Kỷ Dậu

        Ngũ Triêu Xu là con trai Ngũ Đình Phương, hiệu là "Thê vân" (đám mây hình cái thang), nhà ngoại giao, nhà thư pháp thời kỳ Dân quốc. Mười tuổi theo cha đến Mỹ học. Năm 1923 tham gia chính phủ Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu, tổng trưởng ngoại giao. Năm 1925, thị trưởng thành phố Quảng Châu tỉnh Quảng Đông. Năm 1927, Bộ trưởng ngoại giao chính phủ quốc dân ở Nam Kinh. Từng đảm nhiệm các công việc và chức vụ như Luật sư Anh quốc; Công sứ Trung Hoa dân quốc tại Hoa Kỳ; Viện trưởng Viện Tư pháp; Tổng trưởng đặc khu tự trị Quỳnh Nhai; Ủy viên Chính phủ,.... Năm 1934 bệnh mất tại Hồng Kông, hưởng dương 47 tuổi.

        Tham khảo: http://baike.baidu.com/view/99789.htm

        Hình: http://upload.wikimedia.org/wikipedi...Wu_Chaoshu.jpg

        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      20. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      Trang 5/13 đầuđầu ... 34567 ... cuốicuối

      Đề tài tương tự

      1. Trả lời: 3
        Bài mới: 10-08-12, 09:09
      2. Tử bình chân thuyên
        By Ducminh in forum Tủ sách Huyền Không Lý Số
        Trả lời: 8
        Bài mới: 15-10-10, 20:58

      Tags for this Thread

      Quuyền Hạn Của Bạn

      • Bạn không thể gửi đề tài mới
      • Bạn không thể gửi trả lời
      • Bạn không thể gửi đính kèm
      • Bạn không thể sửa bài viết của mình
      •