Tên đăng nhập:
Bạn đã có tài khoản chưa?
Quên mật khẩu?
  • Đăng nhập / Ghi danh

    Trang 6/13 đầuđầu ... 45678 ... cuốicuối
    kết quả từ 51 tới 60 trên 130
      1. #51
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 29:
        Luận câu nệ vào cách cục

        Nguyên văn:
        Bát tự Dụng thần chuyên dựa vào nguyệt lệnh, nguyệt lệnh không có Dụng thần thì từ từ tìm cách cục. Nguyệt lệnh là gốc, ngoại cách là ngọn. Người nay không phân nặng nhẹ mà câu nệ cách cục, tức bỏ thực tìm hư.

        Từ chú thích:
        Khi xem mệnh, thường đem tám chữ lần lượt phối hợp can, chi, kết thành một khối để chọn ra đầu mối then chốt trong đó, không thể bỏ qua một chữ nào. Nguyệt lệnh là khí đang vượng, vượng suy tiến thoái cần phải dựa vào đó mà định (xem lại tiết Dụng thần). Tức là nguyệt lệnh không có dụng thần mà chọn ngoại cách, cũng đã có bài viết đã bàn rồi, phải hợp với lẽ ngũ hành mới có thể chọn bằng không chỉ là mảnh ghép lộn xộn, không hoàn toàn tin cậy. Người nay hiểu biết nửa vời, lại không để tâm nghiên cứu, thấy một vài chữ giống nhau liền cho là hợp với cách cục nào đó. Đó không chỉ là sự vô nguyên tắc mà còn rập khuôn cách cục; cũng không phải vì đã từng hiểu rõ đến mức ôm miệng cười khúc khích. Do không hiểu nguyên lý, nên câu nệ chấp nhất mà không biết rằng đang sai lầm.

        Nguyên văn:
        Cho nên Mậu sinh tháng Giáp Dần, thời thượng Canh Thân, không cho là minh Sát có chế phục, mà tưởng rằng cách chuyên Thực gặp Giáp giảm phúc.

        Từ chú thích:
        Hỷ kỵ thiên nói rằng: "Canh Thân gặp ngày Mậu gọi là cách Thực thần chuyên vượng, năm tháng phạm Giáp Bính Mão Dần, đây chính là gặp và như không gặp". Thực thần chuyên Lộc trong thời can có nhiều, sao lại phải chọn ngày Mậu giờ Canh Thân để nói? Chính là do Canh Thân ám hợp Ất Mão, cũng là quan tinh của Mậu thổ, ám hợp thủ dụng đáng tin hay không tạm thời để sang một bên chưa bàn. Tam Mệnh Thông Hội nói rõ: "Nguyệt lệnh nếu gặp Tài Quan thì lấy Tài Quan để luận". Tài Quan là Dụng thần tức nguyệt lệnh hữu dụng thì chọn từ nguyệt lệnh. Lại nói rằng: "Mậu Ngọ, Mậu Dần khó áp dụng cách này", có thể thấy được không chỉ có nguyệt lệnh mà tứ trụ cũng cần phù hay ức tức là cách chọn có sự khác biệt.


        Nguyên văn:
        Bính sinh Tý nguyệt, thời gặp (Quý) Tị là lộc, không cho rằng cách Chính quan, Quy lộc bang thân mà tưởng là Nhật lộc quy thời gặp Quan phá cách.

        Từ chú thích:
        Hỷ kị thiên nói rằng: "Nhật lộc quy thời một quan tinh, hiệu viết thanh vân đắc lộ". Bàn về cách Nhật lộc bang thân làm dụng, như:

        Mệnh của Vương Thụ San, Diêm nghiệp tổng thương (trưởng một phòng hay một cục ngành muối) :
        Quý Dậu / Quý Hợi / Mậu Tý / Đinh Tị
        Nhâm Tuất -Tân Dậu -Canh Thân -Kỷ Mùi -Mậu Ngọ -Đinh Tị


        Mệnh của Hoàng Quang Ích, tổng biên tập tờ Nhật báo nhỏ:

        Nhâm Thìn / Nhâm Tý / Bính Thân / Quý Tị
        Quý Sửu -Giáp Dần -Ất Mão -Bính Thìn -Đinh Tị -Mậu Ngọ

        Hai mệnh trên đều là nhật lộc quy thời, mệnh ông Vương thì nguyệt lệnh Chính Tài quá vượng, vận đến Tỷ kiếp thì giàu có, chính là nói "Tứ trụ không có quan tinh, thanh vân đắc lộ". Tứ trụ ông Hoàng thì Quan Sát quá vượng, nhờ Tị lộc là gốc của nhật nguyên, cần phải thông quan dụng Ấn, vận đến đất Ấn là tối mỹ. Tỉ Kiếp bang thân giúp địch Sát tuy là vận đẹp, tị thuộc về hai cỗ xe tứ mã quy lộc (ý nói tị bị nhật chủ Bính cưỡi và bị Bính ở vận cưỡi nữa) kiến Quan thành phá cách, chủ yếu là do thân sát đánh nhau, không nên gặp mới đẹp.


        Như:
        Kỷ Tị / Bính Dần / Ất Mùi / Kỷ Mão
        Ất Sửu -Giáp Tý -Quý Hợi -Nhâm Tuất -Tân Dậu -Canh Thân

        Đây là mệnh của một ông chú ruột của tôi, Thương quan sinh Tài làm dụng, tuy hưởng phúc từ tổ tiên để lại nhưng không con.

        Như:
        Nhâm Thìn / Nhâm Tý / Bính Thân / Quý Tị
        Quý Sửu -Giáp Dần- Ất Mão- Bính Thìn -Đinh Tị- Mậu Ngọ

        Đây là mệnh em họ tôi, nguyệt lệnh quan tinh bị thương, tý sửu hợp chặt trụ quan tinh. [Dịch chú: Trụ này y chang trụ Hoàng Quang Ích, lời đoán thì nói đến chữ Sửu, nhưng tứ trụ không hề có, tra xét nhiều bản cũng thấy y như vậy, có thể thấy là tài liệu công bố sai, tạm thời bỏ qua không bàn đến]

        Có thể thấy được Nhật Lộc quy thời, hết mực trợ thân, không thể vì không thấy quan tinh liền luận là quý cách. Nếu nguyệt lệnh quan tinh thanh thuần, thân vượng dụng Tài sinh Quan thì sao không là quý cách được.


        Nguyên văn:
        Tân nhật thấu Bính, giờ là Mậu Tý, không cho rằng Tân nhật đắc Quan phùng Ấn, mà cho là Triều Dương cách, chỉ vì Bính mà không thành cách.

        Từ chú thích:
        Hỷ Kị Thiên nói rằng: "Lục Tân nhật thời gặp Mậu Tý, hiềm Ngọ vị vận hỷ Dậu phương", lấy Mậu Bính cùng lộc tại Tị, Mậu là Ấn của Tân, tác động Bính là quan tinh của Tân.

        Như:
        Mậu Thân /Ất Mão/ Tân Hợi /Mậu Tý
        Bính Thìn- Đinh Tị -Mậu Ngọ -Kỷ Mùi -Canh Thân -Tân Dậu

        Đây là mệnh của danh nhân Chu Bảo Tam, người đất Hỗ (Thượng Hải), tương truyền thuộc Triều Dương cách. Cách này rắc rối tạm thời chưa bàn, theo Triều Dương cách mà nói thì Tam Mệnh Thông Hội nói rõ sinh tháng Giáp Dần Ất Mão, chỉ lấy Tài để luận, đây cũng chính là lấy Tài làm dụng thần. Lại nói rằng, sinh tháng tứ quý thì dùng Ấn để luận, đó là vẫn dựa theo nguyệt lệnh làm trọng, vẫn dùng tứ trụ phù ức.

        Nguyên văn:
        Tài gặp giờ Sát, không cho rằng sinh Sát công Thân mà tưởng rằng gặp cách cục Thời thượng Thiên quan.

        Từ chú thích:
        Tài gặp giờ Sát là nguyệt lệnh Tài mà gặp giờ là Sát, Hỷ Kị Thiên nói rằng: "Nhược nãi thời phùng Thất sát, kiến chi vị tất vi hung, nguyệt chế can cường, kỳ sát phản vi quyền ấn", nghĩa là nếu giờ gặp Thất sát chưa hẳn là hung, nguyệt chế can cường, thì Sát này chuyển thành uy quyền. Nguyên văn rất rõ, can cường nghĩa là thân cường; Thất sát vốn khắc Thân, nhưng nhật nguyên cường thì Thất sát hữu chế, phản thành nắm giữ uy quyền. Không chỉ có ở thời trụ mới vậy mà khi dụng Sát đều như vậy. Nếu lấy Thời thượng Thiên quan, không cần biết nhật nguyên mạnh yếu, không xem xét có chế hóa hay không, liền cho rằng phù hợp quý cách thì sai lầm lớn rồi.

        Nguyên văn:
        Quý sinh tháng Tị, giờ gặp Giáp Dần không nghĩ rằng ám Quan thụ phá mà cho là hình hợp thành cách.

        Từ chú thích:
        Hỷ Kị Thiên nói rằng, "Lục Quý nhật thời phùng Dần vị, tuế nguyệt phạ Mậu Kỷ nhị phương ", tức nói về hình hợp cách; ở cách cục thì các cách hình hợp, diêu tị, diêu sửu là các cách rất không đáng tin, so với thuyết ám xung thì càng không có căn cứ; tị gặp thân là hình hợp, tị kiến dần là hình mà không hợp; tóm lại đều không có nguyên lý, tuy sách có biên cách này nhưng không chỉ cách dùng. Ví dụ như thầy thuốc chẩn bệnh không hiểu bệnh lý để hốt thuốc, há bắt đúng bệnh được sao? Tuy trước đây đã biết đến cách này nhưng giờ tạm gác lại thì hơn.

        Nguyên văn:
        Quý sinh tháng mùa Đông, Dậu nhật Hợi thời, thấu Mậu tọa Tuất, không cho rằng nguyệt Kiếp kiến Lộc, dụng Quan thông căn, mà tưởng rằng cách củng Tuất, do điền thực mà bất lợi. Tân nhật tọa sửu, năm dần, tháng hợi, giờ mão, không dùng Chính tài cách mà dùng điền thực củng quý (nhân).

        Từ chú thích:
        Nhật trụ củng Lộc hay giáp quý nhân, dù tứ trụ không rõ cách kiến lộc kiến quý, khi địa chi có trật tự thì cũng đủ tăng vượng trợ lực dụng thần. Như mệnh Viên Hạng Thành (Viên Thế Khải), bát tự cơ bản là tốt, hỷ dụng lại thanh thuần, ví như cẩm thượng thiêm hoa, càng tăng cái đẹp, nếu bát tự bình thường, tuy có củng giáp lộc quý thì dùng nó như thế nào? Lộc quý không thể làm dụng, chả lẽ củng giáp chỉ hư vô, bất thực chăng? Điền thực cũng chưa chắc phá cách, như mệnh Viên Hạng Thành, sơ vận Nhâm Thân, không phải điền thực quý nhân ư? Vận Canh Ngọ không điền thực Đinh Lộc? Đủ thấy rằng khi lấy Dụng thần hỷ kị làm chính thì không thể chấp nhất vụn vặt mà bỏ qua căn bản. Về phần giáp Quan củng Khố, rốt cuộc mang ý nghĩa gì thì không thể giải nghĩa được.

        Trích lại thiên: Luận tinh thần vô quan cách cục,

        Kỷ Mùi / Quý Dậu / Đinh Tị / Đinh Mùi
        Đại vận: Nhâm Thân - Tân Mùi - Canh Ngọ - Kỷ Tị - Mậu Thìn - Đinh Mão

        Đây là mệnh của Viên Hạng Thành (tức Viên Thế Khải), xem sơ qua thì thấy Thân cường Thực Thần chế Sát mà thôi, nhưng biện chi tiết thì lấy năm làm chủ, năm là Kỷ Mùi, Mùi Dậu giáp thân là quý; lấy ngày làm chủ thì Đinh quý nhân tại Dậu, lấy Sát làm dụng mà Sát quý tại Tị cho nên thân Sát hỗ hoán đắc quý nhân. Thất sát là thần đối nghịch với ta, quý nhân hỗ hoán ví như được triều đình nhà Thanh biết đến mà trọng dụng, mà cũng là dấu hiệu triều đình bị ta phản phúc. Địa chi Tị Mùi Dậu giáp lộc giáp quý, toàn trụ đầy Lộc và Quý nhân ủng hộ nên ứng với Nguyên thủ quốc gia. Đến vận Mão, Sát đối nghịch lâm Quý nhân đắc thế mà xung với Quý nhân của bản thân nhật chủ, bị cô lập hoàn toàn, hết sức hiển nhiên vậy.


        Nguyên văn:
        Ất sinh tháng dần, giờ gặp Bính tý, không nghĩ là mộc hỏa thông minh mà cho rằng thành cách Thử quý.

        Từ chú thích:
        Hỷ Kị Thiên nói rằng, "Âm mộc độc ngộ tý thời, vi lục Ất thử quý chi địa", sinh ngày Ất khởi giờ đầu là Bính tý, lộc của Bính tại tị, tị hợp với thân kim là Quan tinh của Ất mộc; tý lại hợp với thân là tam hợp quý hội (Ất quý nhân tại tý và thân). Thần phong thông khảo ghi rằng: "Tý trung Quý thủy hợp Mậu vi Ất Tài", Mậu lộc tại tị, tị hợp thân, là Quan tinh của Ất, thuyết này càng thiếu căn cứ. Tóm lại, các cách cục này không đáng tin, bỏ qua một bên thì hay hơn. Các lý thuyết sai lầm trên, trăm thứ không đúng một, điều này đều do không hiểu mệnh lý, rồi phân tích bình luận bậy bạ.

        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      2. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      3. #52
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 29:
        Luận câu nệ vào cách cục

        Nguyên văn:
        Bát tự Dụng thần chuyên dựa vào nguyệt lệnh, nguyệt lệnh không có Dụng thần thì từ từ tìm cách cục. Nguyệt lệnh là gốc, ngoại cách là ngọn. Người nay không phân nặng nhẹ mà câu nệ cách cục, tức bỏ thực tìm hư.

        Từ chú thích:
        Khi xem mệnh, thường đem tám chữ lần lượt phối hợp can, chi, kết thành một khối để chọn ra đầu mối then chốt trong đó, không thể bỏ qua một chữ nào. Nguyệt lệnh là khí đang vượng, vượng suy tiến thoái cần phải dựa vào đó mà định (xem lại tiết Dụng thần). Tức là nguyệt lệnh không có dụng thần mà chọn ngoại cách, cũng đã có bài viết đã bàn rồi, phải hợp với lẽ ngũ hành mới có thể chọn bằng không chỉ là mảnh ghép lộn xộn, không hoàn toàn tin cậy. Người nay hiểu biết nửa vời, lại không để tâm nghiên cứu, thấy một vài chữ giống nhau liền cho là hợp với cách cục nào đó. Đó không chỉ là sự vô nguyên tắc mà còn rập khuôn cách cục; cũng không phải vì đã từng hiểu rõ đến mức ôm miệng cười khúc khích. Do không hiểu nguyên lý, nên câu nệ chấp nhất mà không biết rằng đang sai lầm.

        Nguyên văn:
        Cho nên Mậu sinh tháng Giáp Dần, thời thượng Canh Thân, không cho là minh Sát có chế phục, mà tưởng rằng cách chuyên Thực gặp Giáp giảm phúc.

        Từ chú thích:
        Hỷ kỵ thiên nói rằng: "Canh Thân gặp ngày Mậu gọi là cách Thực thần chuyên vượng, năm tháng phạm Giáp Bính Mão Dần, đây chính là gặp và như không gặp". Thực thần chuyên Lộc trong thời can có nhiều, sao lại phải chọn ngày Mậu giờ Canh Thân để nói? Chính là do Canh Thân ám hợp Ất Mão, cũng là quan tinh của Mậu thổ, ám hợp thủ dụng đáng tin hay không tạm thời để sang một bên chưa bàn. Tam Mệnh Thông Hội nói rõ: "Nguyệt lệnh nếu gặp Tài Quan thì lấy Tài Quan để luận". Tài Quan là Dụng thần tức nguyệt lệnh hữu dụng thì chọn từ nguyệt lệnh. Lại nói rằng: "Mậu Ngọ, Mậu Dần khó áp dụng cách này", có thể thấy được không chỉ có nguyệt lệnh mà tứ trụ cũng cần phù hay ức tức là cách chọn có sự khác biệt.


        Nguyên văn:
        Bính sinh Tý nguyệt, thời gặp (Quý) Tị là lộc, không cho rằng cách Chính quan, Quy lộc bang thân mà tưởng là Nhật lộc quy thời gặp Quan phá cách.

        Từ chú thích:
        Hỷ kị thiên nói rằng: "Nhật lộc quy thời một quan tinh, hiệu viết thanh vân đắc lộ". Bàn về cách Nhật lộc bang thân làm dụng, như:

        Mệnh của Vương Thụ San, Diêm nghiệp tổng thương (trưởng một phòng hay một cục ngành muối) :
        Quý Dậu / Quý Hợi / Mậu Tý / Đinh Tị
        Nhâm Tuất -Tân Dậu -Canh Thân -Kỷ Mùi -Mậu Ngọ -Đinh Tị


        Mệnh của Hoàng Quang Ích, tổng biên tập tờ Nhật báo nhỏ:

        Nhâm Thìn / Nhâm Tý / Bính Thân / Quý Tị
        Quý Sửu -Giáp Dần -Ất Mão -Bính Thìn -Đinh Tị -Mậu Ngọ

        Hai mệnh trên đều là nhật lộc quy thời, mệnh ông Vương thì nguyệt lệnh Chính Tài quá vượng, vận đến Tỷ kiếp thì giàu có, chính là nói "Tứ trụ không có quan tinh, thanh vân đắc lộ". Tứ trụ ông Hoàng thì Quan Sát quá vượng, nhờ Tị lộc là gốc của nhật nguyên, cần phải thông quan dụng Ấn, vận đến đất Ấn là tối mỹ. Tỉ Kiếp bang thân giúp địch Sát tuy là vận đẹp, tị thuộc về hai cỗ xe tứ mã quy lộc (ý nói tị bị nhật chủ Bính cưỡi và bị Bính ở vận cưỡi nữa) kiến Quan thành phá cách, chủ yếu là do thân sát đánh nhau, không nên gặp mới đẹp.


        Như:
        Kỷ Tị / Bính Dần / Ất Mùi / Kỷ Mão
        Ất Sửu -Giáp Tý -Quý Hợi -Nhâm Tuất -Tân Dậu -Canh Thân

        Đây là mệnh của một ông chú ruột của tôi, Thương quan sinh Tài làm dụng, tuy hưởng phúc từ tổ tiên để lại nhưng không con.

        Như:
        Nhâm Thìn / Nhâm Tý / Bính Thân / Quý Tị
        Quý Sửu -Giáp Dần- Ất Mão- Bính Thìn -Đinh Tị- Mậu Ngọ

        Đây là mệnh em họ tôi, nguyệt lệnh quan tinh bị thương, tý sửu hợp chặt trụ quan tinh. [Dịch chú: Trụ này y chang trụ Hoàng Quang Ích, lời đoán thì nói đến chữ Sửu, nhưng tứ trụ không hề có, tra xét nhiều bản cũng thấy y như vậy, có thể thấy là tài liệu công bố sai, tạm thời bỏ qua không bàn đến]

        Có thể thấy được Nhật Lộc quy thời, hết mực trợ thân, không thể vì không thấy quan tinh liền luận là quý cách. Nếu nguyệt lệnh quan tinh thanh thuần, thân vượng dụng Tài sinh Quan thì sao không là quý cách được.


        Nguyên văn:
        Tân nhật thấu Bính, giờ là Mậu Tý, không cho rằng Tân nhật đắc Quan phùng Ấn, mà cho là Triều Dương cách, chỉ vì Bính mà không thành cách.

        Từ chú thích:
        Hỷ Kị Thiên nói rằng: "Lục Tân nhật thời gặp Mậu Tý, hiềm Ngọ vị vận hỷ Dậu phương", lấy Mậu Bính cùng lộc tại Tị, Mậu là Ấn của Tân, tác động Bính là quan tinh của Tân.

        Như:
        Mậu Thân /Ất Mão/ Tân Hợi /Mậu Tý
        Bính Thìn- Đinh Tị -Mậu Ngọ -Kỷ Mùi -Canh Thân -Tân Dậu

        Đây là mệnh của danh nhân Chu Bảo Tam, người đất Hỗ (Thượng Hải), tương truyền thuộc Triều Dương cách. Cách này rắc rối tạm thời chưa bàn, theo Triều Dương cách mà nói thì Tam Mệnh Thông Hội nói rõ sinh tháng Giáp Dần Ất Mão, chỉ lấy Tài để luận, đây cũng chính là lấy Tài làm dụng thần. Lại nói rằng, sinh tháng tứ quý thì dùng Ấn để luận, đó là vẫn dựa theo nguyệt lệnh làm trọng, vẫn dùng tứ trụ phù ức.

        Nguyên văn:
        Tài gặp giờ Sát, không cho rằng sinh Sát công Thân mà tưởng rằng gặp cách cục Thời thượng Thiên quan.

        Từ chú thích:
        Tài gặp giờ Sát là nguyệt lệnh Tài mà gặp giờ là Sát, Hỷ Kị Thiên nói rằng: "Nhược nãi thời phùng Thất sát, kiến chi vị tất vi hung, nguyệt chế can cường, kỳ sát phản vi quyền ấn", nghĩa là nếu giờ gặp Thất sát chưa hẳn là hung, nguyệt chế can cường, thì Sát này chuyển thành uy quyền. Nguyên văn rất rõ, can cường nghĩa là thân cường; Thất sát vốn khắc Thân, nhưng nhật nguyên cường thì Thất sát hữu chế, phản thành nắm giữ uy quyền. Không chỉ có ở thời trụ mới vậy mà khi dụng Sát đều như vậy. Nếu lấy Thời thượng Thiên quan, không cần biết nhật nguyên mạnh yếu, không xem xét có chế hóa hay không, liền cho rằng phù hợp quý cách thì sai lầm lớn rồi.

        Nguyên văn:
        Quý sinh tháng Tị, giờ gặp Giáp Dần không nghĩ rằng ám Quan thụ phá mà cho là hình hợp thành cách.

        Từ chú thích:
        Hỷ Kị Thiên nói rằng, "Lục Quý nhật thời phùng Dần vị, tuế nguyệt phạ Mậu Kỷ nhị phương ", tức nói về hình hợp cách; ở cách cục thì các cách hình hợp, diêu tị, diêu sửu là các cách rất không đáng tin, so với thuyết ám xung thì càng không có căn cứ; tị gặp thân là hình hợp, tị kiến dần là hình mà không hợp; tóm lại đều không có nguyên lý, tuy sách có biên cách này nhưng không chỉ cách dùng. Ví dụ như thầy thuốc chẩn bệnh không hiểu bệnh lý để hốt thuốc, há bắt đúng bệnh được sao? Tuy trước đây đã biết đến cách này nhưng giờ tạm gác lại thì hơn.

        Nguyên văn:
        Quý sinh tháng mùa Đông, Dậu nhật Hợi thời, thấu Mậu tọa Tuất, không cho rằng nguyệt Kiếp kiến Lộc, dụng Quan thông căn, mà tưởng rằng cách củng Tuất, do điền thực mà bất lợi. Tân nhật tọa sửu, năm dần, tháng hợi, giờ mão, không dùng Chính tài cách mà dùng điền thực củng quý (nhân).

        Từ chú thích:
        Nhật trụ củng Lộc hay giáp quý nhân, dù tứ trụ không rõ cách kiến lộc kiến quý, khi địa chi có trật tự thì cũng đủ tăng vượng trợ lực dụng thần. Như mệnh Viên Hạng Thành (Viên Thế Khải), bát tự cơ bản là tốt, hỷ dụng lại thanh thuần, ví như cẩm thượng thiêm hoa, càng tăng cái đẹp, nếu bát tự bình thường, tuy có củng giáp lộc quý thì dùng nó như thế nào? Lộc quý không thể làm dụng, chả lẽ củng giáp chỉ hư vô, bất thực chăng? Điền thực cũng chưa chắc phá cách, như mệnh Viên Hạng Thành, sơ vận Nhâm Thân, không phải điền thực quý nhân ư? Vận Canh Ngọ không điền thực Đinh Lộc? Đủ thấy rằng khi lấy Dụng thần hỷ kị làm chính thì không thể chấp nhất vụn vặt mà bỏ qua căn bản. Về phần giáp Quan củng Khố, rốt cuộc mang ý nghĩa gì thì không thể giải nghĩa được.

        Trích lại thiên: Luận tinh thần vô quan cách cục,

        Kỷ Mùi / Quý Dậu / Đinh Tị / Đinh Mùi
        Đại vận: Nhâm Thân - Tân Mùi - Canh Ngọ - Kỷ Tị - Mậu Thìn - Đinh Mão

        Đây là mệnh của Viên Hạng Thành (tức Viên Thế Khải), xem sơ qua thì thấy Thân cường Thực Thần chế Sát mà thôi, nhưng biện chi tiết thì lấy năm làm chủ, năm là Kỷ Mùi, Mùi Dậu giáp thân là quý; lấy ngày làm chủ thì Đinh quý nhân tại Dậu, lấy Sát làm dụng mà Sát quý tại Tị cho nên thân Sát hỗ hoán đắc quý nhân. Thất sát là thần đối nghịch với ta, quý nhân hỗ hoán ví như được triều đình nhà Thanh biết đến mà trọng dụng, mà cũng là dấu hiệu triều đình bị ta phản phúc. Địa chi Tị Mùi Dậu giáp lộc giáp quý, toàn trụ đầy Lộc và Quý nhân ủng hộ nên ứng với Nguyên thủ quốc gia. Đến vận Mão, Sát đối nghịch lâm Quý nhân đắc thế mà xung với Quý nhân của bản thân nhật chủ, bị cô lập hoàn toàn, hết sức hiển nhiên vậy.


        Nguyên văn:
        Ất sinh tháng dần, giờ gặp Bính tý, không nghĩ là mộc hỏa thông minh mà cho rằng thành cách Thử quý.

        Từ chú thích:
        Hỷ Kị Thiên nói rằng, "Âm mộc độc ngộ tý thời, vi lục Ất thử quý chi địa", sinh ngày Ất khởi giờ đầu là Bính tý, lộc của Bính tại tị, tị hợp với thân kim là Quan tinh của Ất mộc; tý lại hợp với thân là tam hợp quý hội (Ất quý nhân tại tý và thân). Thần phong thông khảo ghi rằng: "Tý trung Quý thủy hợp Mậu vi Ất Tài", Mậu lộc tại tị, tị hợp thân, là Quan tinh của Ất, thuyết này càng thiếu căn cứ. Tóm lại, các cách cục này không đáng tin, bỏ qua một bên thì hay hơn. Các lý thuyết sai lầm trên, trăm thứ không đúng một, điều này đều do không hiểu mệnh lý, rồi phân tích bình luận bậy bạ.

        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      4. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      5. #53
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 30.
        Luận về việc "nghe nhầm truyền sai"

        Nguyên văn:
        Bát tự vốn có định lý, không hiểu được lý liền sinh dị đoan (thuyết bậy bạ, quái đản), nghe bừa nói bậy, không thể nào cản nổi. Như khi luận can chi, không hiểu lý âm dương mà dùng ca quyết thể tượng trong sách thông tục mà xác luận; luận cách cục thì không "chuyên tầm nguyệt lệnh", mà câu nệ dùng đến ngoại cách rồi biến hóa sôi động (cố theo cái biến đổi ngoài cách cục); luận về sinh khắc thì không xét kỹ hỷ kị mà cứ tổn thương cái vượng và phù cái nhược, suy yếu làm định pháp; luận hành vận thì không thấy trong cái giống cũng có điểm khác biệt, cứ thấy can chi tương đồng liền cho là cùng một trường hợp.

        Từ chú thích:
        Định lý bát tự chính là lý sinh khắc chế hóa của ngũ hành, không nghiên cứu một cách khiêm tốn mà lại "tiên nhập vi chủ" (tư tưởng, lý thuyết nào vào trước liền khắc ghi vào đầu), hiểu biết nửa vời, tự cho là thông minh thì đều đưa đến sai lầm. Thể tượng trong sách giang hồ truyền lại như Phá diện huyền châm cách, dùng hai chữ Giáp Tân là "huyền châm", hai chữ Dậu Tị hợp lại ( 酉巳 ), tạo thành chữ phối ( 配 ) là "phá diện"; mệnh lý không phải là đoán chữ, sai lầm ngớ ngẩn này có thể thấy khắp nơi. Chấp nhất vào ngoại cách, như không quan trọng dụng thần, dùng sao thần sát/ nạp âm để chọn cách cục, không xem xét hỷ kị,... hoặc không cật vấn trong cái giống có cái khác, thành thử thấy mà không nắm lấy, rồi tự cho là đúng.

        Nguyên văn:
        Xem xét các lý do, thì thường một là do mức độ nặng nhẹ của từ ngữ dùng trong sách làm hậu học không hiểu hết ý dẫn đến hiểu sai rồi suy diễn phiến diện; hai là do sách giang hồ nghe sai viết bừa, hiểu lầm lời giảng rồi dấn sâu vào mê lối; ba là khi luận mệnh vận, ngẫu nhiên thấy ứng hợp, liền hình thành chiêu pháp, tâm đắc bất di bất dịch của bản thân; hoặc dùng mệnh thức, mệnh lệ người xưa và hiểu không sai nhưng tự ý cho là ngoại cách hoặc đặt thành một ngoại cách riêng biệt, càng làm hại người học không ít.

        Từ chú thích:
        Trong sách cổ nhân ưa dùng câu chữ có vần có điệu, vì phụ thuộc số lượng chữ để tuân thủ ngữ điệu bằng trắc, nên không diễn tả được hết ý gây hiểu lầm, còn sách giang hồ không hiểu viết bừa cũng lập lại sai lầm này. Như khoa ngũ tinh lấy năm làm chủ, dùng thần sát, nạp âm lập cách cục, còn khoa Tử bình lấy ngày làm chủ mà cũng dùng thần sát, nạp âm thì đó là tự huyễn hoặc cho rằng mình uyên bác, đọc sâu hiểu rộng, chỉ là dối mình gạt người. Mệnh thức cổ nhân thâu tập sai không ít, như trong sách Thần Phong Thông Khảo cũng thường thấy điều đó; hoặc cũng có trường hợp không phải thâu tập sai, nhưng hậu nhân vì viết thêm một bài một đoạn để thuyết minh thì lại thấy hiểu lầm ý tứ, cách cục cổ nhân. Trong sách mệnh học xưa nay, như Tam mệnh thông hội, Thần phong thông khảo, Tử bình chân thuyên, Uyên hải tử bình, thâu tập tuy rộng nhưng tạp mà không tinh, sắp xếp không mạch lạc, lớp lang, chỉ viết sách cho mục đích tham khảo là chính. Cùng Thông Bảo Giám thì tinh túy, nhưng chỉ đàm kinh nghiệm mà không bàn nguyên lý; Thần Phong Thông Khảo khó tránh thiên chấp. Muốn tìm một sách hoàn thiện e rằng khó.

        Nguyên văn:

        Như:
        Nhâm Thân/ Quý Sửu/ Kỷ Sửu/ Giáp Tuất
        ---------------kỷ-quý-tân-----

        Vốn là tạp khí Tài vượng sinh Quan [Quý tạp khí sinh Giáp quan]. Nếu sang giờ Ất Hợi, liền theo đó luận thành Thời thượng Thiên quan, chả lẽ không biết vượng Tài sinh Sát, rỗi hơi cứu cái đang chết, thì quý ở chỗ nào? Nhưng dạng này đều là ngộ thâu cả.

        Bổ sung: nhật can Kỷ thổ thông gốc tại nguyệt lệnh, tức là đắc thế. Lại có nhật, thời đều là thổ vượng nên nhật chủ thừa vượng, Thời trụ xuất hiện Quan tinh Giáp mộc, nhưng tọa tại Tuất nên (Quan) không vượng, nhưng trong niên nguyệt can xuất hiện Nhâm Quý thủy thông căn ở chi Thân Trường sinh, nên thuộc cách cục Tài vượng sinh Quan, lại thêm hành vận phương Đông mộc hỏa, từ đó dẫn xuất Đinh hỏa tàng trong Tuất, giải trừ hàn khí mùa đông, mệnh phú quý đầy đủ.

        Như:
        Kỷ Mùi/ Nhâm Thân/ Mậu Tý/ Canh Thân
        -------canh-mậu-nhâm---

        Vốn là Thực thần sinh Tài, mà lại muốn vứt bỏ nguyệt lệnh dùng ngày Mậu gặp Canh thân là hợp lộc cách, há chẳng biết bản thân tự có Tài Thực chẳng phải quá đẹp đấy sao! Lại vất vả đi lấy Canh hợp Ất, cầu Quan ngoại cục ư, loại này rất nhiều, đều là cố cưỡng theo ngoại cách cả.

        Bổ sung: nhật can Mậu thổ sinh tháng Thân, trong can xuất hiện Nhâm thủy Tài tinh, nhật chi là Tý thủy nên Tài có gốc mạnh, do đó đủ dùng cho nhật chủ; thời can xuất hiện Canh kim Thực thần, có thể sinh Tài. Dường như nhật chủ thân suy nhược nhưng trong niên trụ có Kỷ Mùi giúp thân, do đó thuộc cách Thực thần sinh Tài là mệnh cục phú quý.

        Từ chú thích:
        Thường những kẻ ngông cuồng đều cho mình thông minh, cầm bát tự trên tay mà giải không ra liền cho là sai giờ sinh, rồi tự ý thay đổi giờ sinh mà không biết rằng giờ sai đi là hỷ, dụng, vận đồ hoàn toàn khác hẳn, khiến người xem số không thể nào tìm được lời giải. Giờ thử lật đọc lại mới thấy loại ngông cuồng này từ xưa đã có rồi.

        Như tứ trụ sinh năm Nhâm Thân, giờ Giáp Tuất tàng hỏa điều hậu quá rõ ràng; nếu tự ý chuyển sang một giờ là Ất hợi, vượng Tài sinh Sát mà Sát vô chế, nước lạnh thổ đóng băng, mộc không thể tươi tốt, tưởng ứng hợp quý cách Thời thượng nhất vị, há chẳng đáng cười ư!

        Còn trụ sinh năm Kỷ Mùi, cách Thực thần sinh Tài cũng vô cùng rõ ràng, Thực Tài minh hiển có gì không đẹp mà phải dùng ám hợp Quan tinh, hợp lộc, hợp Quan?! Nhưng hành vi này đều là tự cho mình thông minh, mèo khen mèo dài đuôi, không mang tính thuyết phục.

        Nguyên văn:
        Những kẻ cẩu thả đó đều không có định kiến, xét lý không tinh, khi thấy những lý luận sai lầm này chẳng lẽ ta không nghi ngờ? Huống chi những kẻ đến Nhật quý cách mà không giải được, cũng gặp thường xuyên ư? Lẽ nào không biết người hoạt động học thuật ắt lấy những mệnh phú quý làm khuôn mẫu, nên có trường hợp đem lời nghe đồn làm chứng cứ, có kẻ lại dò tìm ngày sinh rồi tự ý định giờ rồi định sai hoặc ngụy tạo quý cách,... bát tự của nhân loại đa số đều không biết giờ sinh chính xác, điều này chứng tỏ bản thân họ cũng không tự hiểu. Nếu người xem số không hiểu bản chất, chỉ nghe theo lời người đoán mệnh hoặc chỉ mong nghe những lời giàu sang, phú quý mà cả nể, nhân nhượng lời giải của họ rồi thuận theo không nghi ngờ thì có lẽ chung thân không có lời giải đáp.

        Từ chú thích:
        Người mà thấy số quý cách không giải được thì cũng thường thấy, tôi là người nghiên cứu học lý, hiểu thì sẽ biết mà không hiểu thì sẽ không biết, đừng ngại để lại nghiên cứu sau, cũng bất tất phải miễn cưỡng ta đây là người hiểu biết.


        HẾT QUYỂN 2
        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      6. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      7. #54
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 31

        Luận Chính Quan


        Nguyên văn:
        Khắc ta là Quan, tuy so tính chất với Thất Sát có khác biệt nhưng chung quy vẫn mang ý nghĩa bị đối phương khắc chế, tại sao (Quan) cần tránh hình xung phá hại, để tôn kính nó ư? Lẽ nào một mực cho rằng đời người trong trời đất không chịu lẽ uốn nắn, sửa mình thì mới hợp lẽ tôn kính, đến như vua còn phải noi theo thiên tổ nữa mà. Chính Quan phân rõ ra ứng với bậc chí tôn, như quốc gia thì có vua, ở nhà thì là bản thân ta, hình xung phá hại như là kẻ dưới phạm lỗi với bề trên, ôi như thế có được không!

        Từ chú thích:
        Quan và Sát cùng là vật khắc chế ta, còn khác về phối hợp âm dương, cho nên phép dùng chúng đại đồng tiểu dị. Như thân cường Quan khinh, nên dụng Tài sinh Quan; thân nhược Quan nhiều (trọng), nên dụng Ấn hóa Quan, cách dùng đối với Quan hay Sát trong trường hợp này là như nhau. Nhật chủ và Quan Sát vượng nhược tương đương nhau thì gọi là "lưỡng đình", đối với Sát nên dụng Thực Thương chế, còn Quan không nên chế mà nên dụng Tài sinh nó, trường hợp có Thực Thương lại phải dùng Ấn hộ Quan. Bởi thế, Quan và nhật chủ là âm dương phối hợp hữu tình, nhật chủ vốn không sợ Quan khắc, nếu gặp Thực Thương vừa tổn hại đến Quan tinh vừa tiết khí nhật nguyên, như thế không được. Còn gặp hình xung phá hại thì các cách đã thành đều kị cả, không riêng gì Quan tinh.


        Nguyên văn:
        Do hình xung phá hại thành kị, thì sinh nó hộ nó là hỷ. Duy trì được cái hỉ và khử được cái kị thì quý, mà trong cái quý lại phân ra cao thấp là ở chổ nào? Như lấy Tài Ấn đều thấu để bàn, hai thần này không cản trở nhau thì cái quý mới to lớn.

        Như mệnh Tiết Tướng công:
        Giáp Thân / Nhâm Thân / Ất Tị / Mậu Dần
        ----------- canh-mậu-nhâm ----------------

        Nhâm thủy là Ấn, Mậu thổ là Tài, do Ất ngăn cách giữa hai thần này nên thủy và thổ không cản trở nhau, cho nên đại quý.


        Nếu như:
        Nhâm Tuất / Đinh Mùi / Mậu Thân / Ất Mão
        ---------------- kỷ-đinh-ất ----------------

        Tạp khí Chính quan [tạp khí Ất tàng trong Mùi] thấu ra can hội ở chi, cho nên cực quý, còn Nhâm Tài Đinh Ấn hợp nhau nhưng vẫn luận "cô Quan vô trợ", cho nên địa vị không hơn bậc thất phẩm.

        Từ chú thích:
        Thuyết bảo tồn cái Hỷ khử đi cái Kị, đó là thuyết Bệnh dược, được nói đến trong sách Thần Phong Thông Khảo (tác giả Trương Nam, tự là Thần Phong Tử) vốn đã thành lời nói khuôn vàng thước ngọc. Quý cao hay thấp, tất cả đều ở phối hợp thanh, trọc, thuần, tạp.

        Như mệnh Tiết tướng công, Quan Ấn tương sinh, Tài vượng nhưng không phá Ấn [do Ất cách khắc Mậu không cho phá Nhâm], Quan tinh nắm lệnh, chân thần đắc dụng, dĩ nhiên quý mệnh. Nhưng cũng có tiểu bệnh, tam hình Dần Thân Tị không khỏi hình thương quý khí, vận tới Ất Hợi tạo thành tứ xung, chưa hẳn tránh được sóng gió. Bát tự thanh thuần như thế, hay hơn ở chổ vận hành Tây Bắc là đất Quan Ấn, nên là dấu hiệu đại quý.

        Còn tứ trụ tạp khí Chính quan, Mùi là mộc khố, Quan tinh không nắm lệnh, Đinh Nhâm hợp lại, Tài Ấn cả hai đều mất không dùng được; Tị Thân hợp nhau, Quan tinh bị thương. Khí thế lưu thông không tốt, đây là "cô quan vô trợ", quả thực rõ ràng dễ thấy (hợp của Tị Thân Ất Canh).


        Nguyên văn:
        Khi Tài Ấn cùng không dụng được thì dụng Ấn riêng không bằng dụng Tài, do Ấn có thể hộ Quan cũng có thể tiết Quan, còn Tài có khả năng sinh Quan. Nếu được Ấn hóa Quan mà thấu Tài thì càng có thêm tú khí, đó là cách đại quý.

        Như mệnh Kim trạng nguyên:
        Ất Mão / Đinh Hợi / Đinh Mùi / Canh Tuất.

        Mệnh này cùng dụng Tài Ấn, không có Thương quan cũng không tạp Sát, gọi là "khử kị tồn hỷ".

        Từ chú thích:
        Ấn là thần sinh ta, giống như có sự che chở của kẻ khác; Tài thì ta khắc chế nó, ví như ta quản lý kẻ khác. Khi dụng Ấn ắt hẳn thân thường nhược, khi dụng Tài thường thì thân vượng. Thân vượng gánh được trọng trách, nên tự mình phấn đấu, may mắn hơn người mà hiển hách; còn thân nhược thì khả năng xoay chuyển không bằng thân vượng nên được sự che chở của người khác, hưởng phúc ấm, an nhàn. Mệnh của Kim trạng nguyên có tam hợp Hợi Mão Mùi, nguyệt lệnh Quan hóa thành Ấn, thủy thịnh hỏa bế tắc, dụng Tài sẽ làm tổn Ấn, phải dùng đến lý "quân lại thần sinh" (vua nhờ bề tôi sinh) trong Trích Thiên Tủy. Giống như không cùng dụng Tài Ấn, cũng không phải Quan dụng Tài sinh, các kiểu này xếp vào Chính quan tựa hồ không phải.


        Nguyên văn:
        Tuy nhiên, (Quan) bị thương (gặp Thương quan) quyết định ở chổ có đeo Ấn hay không; hỗn tạp Sát quý ở chổ chọn được cái thanh thuần để dùng.

        Như mệnh quan Tham quốc họ Tuyên:
        Kỷ Mão / Tân Mùi / Nhâm Dần / Tân Hợi
        ----------kỷ-đinh-ất-----------

        Trong mùi có Kỷ Quan thấu ra can là dụng thanh, nhưng địa chi hội mộc cục, gặp lưỡng Tân giải được, đó là gặp tổn thương (Thương) mà có Ấn hộ vệ, thế mới nói "ngộ Thương nhi bội Ấn".

        Mệnh quan Tham chính họ Lý:
        Canh Dần / Ất Dậu / Giáp Tý / Mậu Thìn

        Giáp dụng dậu Quan, Canh kim hỗn tạp, dùng Ất lấy hợp Canh là hợp Sát lưu Quan, nên gọi là "tạp Sát nhi thủ thanh" vậy.

        Từ chú thích:
        "Ngộ Thương bội Ấn", "hỗn Sát thủ thanh", hiển nhiên là các chiêu thức định luận, bất di bất dịch.

        Như mệnh quan Tham quốc họ Tuyên, chi toàn mộc cục, do hợp mà động, Quan hóa thành Thương, Thương vượng tiết khí dụng Ấn chế Thương làm dụng; khí Quan tinh Kỷ bị tận tiết cho kim thì há có thể biệt đãi Quan tinh? Nghĩa là mấu chốt toàn cục là ở Ấn chứ không ở Quan.

        Còn như mệnh quan Tham chính họ Lý, Dậu là vượng địa của Canh kim, Ất Canh hợp làm hoãn thế khắc, đó chính là "Giáp dĩ Ất muội thê Canh, hung vi cát triệu" (Giáp gả em gái là Ất cho Canh, chuyển hung thành cát). Giáp mộc thông căn, Tý Thìn tương hợp, Tài hóa thành Ấn, lấy Ấn hóa Sát, dụng cũng tại Ấn; đặc biệt Quan có Tài sinh, được Ấn hóa nên khí thế lưu chuyển, cách cục vì hợp mà thanh thuần, đây gọi là "thủ thanh".


        Nguyên văn:
        Khi Quan cách thấu Thương dụng Ấn thì lại kị gặp Tài vì Tài khử Ấn không thể sinh Quan, mà chỉ thích hợp bảo hộ Thương. Nhưng cũng có trường hợp kiến Tài mà vẫn đại quý.

        Như mệnh quan Thái phó họ Phạm:
        Đinh Sửu/ Nhâm Dần/ Kỷ Tị/ Bính Dần

        Chi đủ Tị Sửu hội Thương quan kim, Bính Đinh giải đi thấu Nhâm chẳng lẽ không phải phá cách? Lại không biết rằng Bính Đinh tịnh thấu, dụng một cũng đủ, dùng Đinh hợp Nhâm bị Tài khử; dùng Bính chế Thương mà Quan được thanh thuần, vô tình mà thành hữu tình. Đây chính là cái đẹp của tạo hóa, biến ảo vô cùng, sao không quý được.

        Từ chú thích:
        Đoạn trên lý luận tuyệt vời, mệnh quan Thái phó họ Phạm với Đinh Nhâm hợp gặp tháng Dần giờ Dần thì Ấn mới hóa thành Quan tinh, cách cục vì hợp mà chuyển thành thanh thuần; Bính hỏa từ Dần thấu xuất và đắc lộc đắc sinh, đầu xuân mộc vượng thổ hư, chân thần đắc dụng. Quan thanh Ấn thuần và đồng cung cùng vượng, đại quý sao có thể nghi ngờ cho được. Hợp của Tị Sửu thì không thật (bất chân) vì tam hợp hội cục lấy tứ chính (tý ngọ mão dậu) làm trọng tâm, không có dậu mà còn ngăn cách bởi dần, kim lấy dần làm tuyệt địa thì sao có thể làm hại Quan tinh được? Bởi thế, Tị là lộc địa của hỏa thổ chẳng thể là sinh địa làm kim sống lại được.

        Về phần địa chi gặp hình xung thì hội hợp có thể giải được, mời xem chương trước không cần phải thuật lại, mà kể từ đây khi bàn các cách cũng không nói đến địa chi hình xung gặp hội hợp nữa.

        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      8. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      9. #55
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 32. Luận Chính Quan thủ vận
        (Bàn về việc áp dụng Chính quan cách vào vận hạn)


        Nguyên văn:
        Nguyên lý Chính quan cách chọn vận thì mỗi Bát tự có cách luận riêng biệt, lý lẽ rất tinh tế, phương pháp thì rất linh hoạt, chỉ có thể nói tóm lược. Bát tự mỗi người biến hóa khác nhau, không thể câu chấp được.

        Từ chú thích:
        Cùng là cách Quan dụng Tài sinh nhưng thủ vận bất đồng, nguyên nhân vì sao, vì bát tự ngoài dụng thần, hỉ thần, kỵ thần ra còn có "nhàn thần", dụng thần hỉ kỵ có thể định còn nhàn thần thì vô định. Như Quan dụng Tài sinh, thì Chính Quan là Dụng thần; Tài là Hỉ thần và Thương quan là Kị thần. Mà trong bát tự vốn xen lẫn nhàn thần thì (cách cục) bất nhất; vị trí phối hợp của địa chi cũng không nhất định (chi đóng trước, chi đóng sau). Cho nên mỗi bát tự có mỗi cách luận, từ biến hóa tổ hợp thiên can và vị trí địa chi, mà xuất hiện chênh lệch phú – quý – bần – tiện. Xem ví dụ dưới đây chứng minh thì rõ.


        Nguyên văn:
        Như Chính quan thủ vận, tức lấy Chính quan cách làm gốc phân ra từng trường hợp để phối luận. Chính quan mà dụng Tài Ấn, thân hơi nhược thì áp dụng trợ giúp thân (tức dụng Ấn hóa Quan vượng), hành vận phải vào chổ vượng của Ấn; Quan hơi nhẹ (khinh) thì trợ Quan (tức dụng Tài sinh Quan), hành vận cũng phải ở nơi sinh Quan. Nếu Quan thấu lộ thì không thể gặp hợp, cũng không thể hỗn tạp Sát và không thể nhiều Quan. Địa chi tàng Quan gặp hình xung, thì không chỉ Quan cách mà cách cục khác cũng bất lợi.

        Từ chú thích:
        Thủ vận hỷ hay kị, mỗi bát tự đều bất nhất, nên dựa vào phần Luận bát cách ở chương trước áp dụng cho mỗi mệnh rồi phối hợp với hỉ kỵ vận, chỉ mang tính tham khảo mà thôi. Chính quan mà dụng Tài Ấn, tuy nói kiêm dụng cả hai nhưng ắt phải có chủ kiến; trường hợp Thân hơi nhược thì chọn trợ giúp cho thân, tức lấy Ấn làm chủ; Quan hơi nhược thì lấy trợ Quan, tức lấy Quan làm chủ. Nhưng Tài Ấn đều thấu thì tối hỷ vận Quan Sát, do Tài sinh Quan Sát, Quan Sát sinh Ấn, nhất khí tương thông (thông suốt một mạch), lúc này Quan Sát là sinh Ấn mà không khắc thân. Về phần Quan tinh thấu lộ ở can, gặp hợp Quan, tạp Sát, Quan trùng điệp, địa chi hình xung, đều là điều kị của Quan cách. Nếu như Quan tàng ở chi, mà địa chi hội hợp hình xung cũng kị.
        Giáp Thân / Nhâm Thân / Ất Tị / Mậu Dần
        Quý Dậu -Giáp Tuất -Ất Hợi -Bính Tý -Đinh Sửu -Mậu Dần -Kỷ Mão

        Đây là mệnh Tiết tướng công đã luận ở phần Luận Chính quan (ở chương trước), nguyệt lệnh Chính quan kiêm dụng Tài Ấn, mừng giữa Tài và Ấn có Ất mộc ngăn cách làm cả hai không gây trở ngại cho nhau, nên có thể kiêm dụng. Nhưng mùa thu mộc điêu linh (tàn tạ), Quan phùng sinh gặp lộc, Tài cũng phùng sinh gặp lộc, Tài Quan cực vượng, nên mới gọi là thân hơi nhược (sảo khinh), cần phải trợ giúp thân. Dậu vận Thất sát, tiết Tài sinh Ấn là cực đẹp, Giáp vận trợ thân cũng tốt. Nếu trụ năm Giáp Thân mà đổi thành Kỷ Dậu, hành Giáp vận hợp Kiếp phá Ấn (thủy), tức không tốt. Thế mới nói do phối hợp của nhàn thần mà hỷ kị khác nhau. Tuất vận Tài vượng; nhưng mừng vì không tổn thương Ấn, nên không ngại. Vận Ất Hợi theo phương Bắc là đất Ấn thụ, nhưng đến Hợi vận gặp tứ xung khó tránh khỏi sóng gió ba đào, thế mới nói do phối hợp địa chi khác nhau mà hỉ kỵ cũng khác. Mậu vận Tài tinh phá Ấn, dần vận lưỡng dần xung Quan, cả hai đều không tốt, e rằng đến đây thì tận số.

        Nhâm Tuất / Đinh Mùi / Mậu Thân / Ất Mão

        Mậu Thân -Kỷ Dậu -Canh Tuất -Tân Hợi -Nhâm Tý -Quý Sửu

        Đây là mệnh ví dụ về tạp khí Chính quan trong phần Luận Chính quan ở chương trước, tuy Tài Ấn thấu có Đinh Nhâm hợp, nhưng Tài Ấn đều mất tác dụng (xem thêm tiết Thập can phối hợp tính tình), nên luận Quan cô độc không có phụ trợ. Thêm vào đó Mão Thân tương hợp (do tàng Ất Canh ám hợp), Tuất Mùi tương hình, gốc Quan tinh bị tổn hại, đây là nhược điểm cơ bản của bát tự này. Vào vận thì nhật nguyên đang vượng, Quan tinh hơi mỏng nên cần phải trợ giúp Quan. Trước vận Canh tuất thì không có vận tốt, hai mươi năm vận Hợi Nhâm Tý Quý là vận Tài, sinh trợ Quan tinh, là lúc thỏa chí cuộc đời.


        Nguyên văn :
        Chính quan dụng Tài, vận hạn hỷ vào đất Ấn thụ thân vượng, tránh gặp Thực Thương. Nếu thân vượng mà Tài khinh Quan nhược, thì vẫn tốt đẹp khi hành vận Tài Quan.

        Từ chú thích :
        Chính quan dụng Tài, cần phải chia thân vượng thân nhược vì hai trường hợp hoàn toàn khác nhau. Thân nhược hỷ đất Ấn thụ làm thân vượng lên, kị hành vận Thực Thương; Thân vượng hỷ theo hướng vượng địa là Tài Quan, xem mệnh trên thì quá hiển nhiên.


        Nguyên văn :
        Chính quan bội Ấn, vận hỉ Tài hương, Thương Thực trái lại cát lành. Nếu Quan mạnh thân khinh mà còn bội Ấn (tức có kèm theo Ấn tiết Quan sinh thân), thì thân được trợ nên vượng lên, bất tất gặp Tài vận (vì Tài sinh Quan và phá Ấn).

        Từ chú thích:
        Chính quan bội Ấn, cũng chia hai thành Thân vượng, Thân khinh (nhược). Thân vượng Ấn trọng, vận hỷ Tài tinh làm hao tổn Ấn, hành vận Thương Thực tiết tú khí của thân mà sinh Tài, Tài chuyển mà thăng Quan, tự thành vận đắc ý; nếu Quan nhiều Thân khinh và bội Ấn, tức phải dụng Ấn sinh thân, Tài vận phá Ấn là kỵ, vận Thực Thương cũng không đẹp, thích hợp với vận Tỉ Kiếp Lộc Ấn.
        Ất Mão / Đinh Hợi / Đinh Mùi / Canh Tuất
        Bính Tuất - Ất Dậu - Giáp Thân - Quý Mùi - Nhâm Ngọ - Tân Tị

        Quan hóa thành Ấn mà thấu Tài, đây là mệnh Kim Trạng nguyên đã nói đến ở chương Chính Quan. Hợi Mão Mùi tam hợp mộc cục, cho nên Quan (nguyệt lệnh Hợi thủy) hóa thành Ấn (mộc), Ất mộc lộ ra, thân vượng Ấn trọng. Dụng Tài để tổn Ấn, trụ giờ gặp Canh Tuất là Tài tinh hữu căn (Canh thông gốc tại Tuất do Tuất tàng Mậu Tân Đinh). Ban đầu hành vận hướng Tây Thân Dậu là Tài địa, Giáp không thông căn mất gốc, Ất tòng theo Canh để hóa, cho nên tự thành vận tốt đẹp như ý. Sau là vận Quý Mùi, vận chuyển sang phương Nam, nhật nguyên quá vượng, Nhâm Quý là Quan Sát tiết Tài sinh Ấn, cũng không được như ý. Đây là cái mà gọi là "Thân vượng bội Ấn, hỉ Thực Thương Tài hương".


        Nguyên văn:
        Chính quan cách kèm Thương Thực mà dụng Ấn để chế, vận hỷ đất Quan vượng Ấn vượng, tránh gặp Tài vận. Nếu Ấn thụ trùng điệp xuất lộ, thì gặp Tài vận vô hại.

        Từ chú thích:
        Chính Quan cách có kèm Thương Thực mà dụng Ấn, cần phải phân ra hai loại Ấn trọng, Ấn khinh. Nếu Thương Quan trọng Ấn thụ khinh, hỷ hành Ấn địa, do Quan vượng cho nên sinh Ấn thành ra tốt đẹp, còn nếu gặp Tài vận phá Ấn là điều tối kỵ. Trái lại, nếu Ấn thụ trùng điệp sinh thân, dụng Thực Thương tiết khí nhật nguyên thì Tài vận trái lại thành tốt, vì Thực Thương hỉ hành Tài địa, hơn nữa dùng nó để hao tổn Ấn (giống như Tiết hóa Quan vi Ấn ở trên).

        Kỷ Mão / Tân Mùi / Nhâm Dần / Tân Hợi
        Canh Ngọ - Kỷ Tị - Mậu Thìn - Đinh Mão - Bính Dần - Ất Sửu

        Đây là mệnh Tuyên Tham Quốc đã nói ở phần Chính quan. Hợi Mão Mùi tam hợp mộc cục, Quan hóa thành Thương, nhật nguyên đóng ở Dần mộc, Dần Hợi lại hợp để hóa mộc, Thương Quan trùng trùng. Nhật nguyên tiết khí quá mức, lấy Tân Ấn chế Thương trợ thân làm dụng. Hai mươi năm Kỷ Tị, Mậu Thìn là đất Quan Sát vượng sinh cho Tân Ấn, nên tự là vận tốt; sau vừa nhập vận Đinh, Tài tinh phá Ấn, không thể dùng được rồi.
        thay đổi nội dung bởi: quangvinhn, 06-04-14 lúc 18:17
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      10. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      11. #56
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Nguyên văn :
        Chính quan đới Sát, gặp Thương Thực cũng không ngại. Mệnh Chính quan đới Sát thường dụng Kiếp hợp Sát thì có thể hành Tài vận, Thương Thực, hay thân vượng, Ấn thụ cũng được, chỉ ngại thấu lộ nhiều Thất Sát. Nếu mệnh dụng Thương Quan hợp Sát, thì Thương Thực cùng Tài đều khả thi, duy chỉ có điều không nên gặp Ấn.

        Từ chú thích:
        Đoạn này cần thông hiểu ý tứ, không nên câu nệ câu chữ. Thông thường hành vận hỉ kị cần xem xét phối hợp tứ trụ, nên cũng không có lý lẽ cố định. Dụng Quan vốn kị Thương Quan, mà đới Sát thì lại không kị, vì có thể dùng nó chế hóa Sát.

        Hợp Sát có hai trường hợp: Dương can hợp Sát dụng Kiếp, Âm can hợp Sát dụng Thương. Dụng Kiếp hợp Sát, kị nhất lại hành Sát vận. Bởi thế, Tài Thực Thương Ấn đều khả thi, đều có cái lý sử dụng. Thân vượng vốn không cần Ấn, mà dụng Kiếp hợp Sát, Sát chưa hợp mất, cho dù thân vượng, rốt cuộc thành ra thấy cả Quan lẫn Sát. Nên dụng Ấn hóa Sát cũng có cái lý để sử dụng. Trường hợp lại thấy thêm một Thất sát làm hỗn tạp cách cục, thì bất luận tứ trụ phối hợp ra sao nhất định không có lý thích hợp; dụng Thương hợp Sát cũng tương tự như vậy. Thương Thực cùng Tài, sau khi thỏa điều kiện phối hợp thích hợp, đều có thể sử dụng. Duy trường hợp Kiêu Ấn khắc khử Thương Quan, đó là phá mất cái thế Thương quan đang hợp Sát thì nhất định không thể được.

        Canh Dần / Ất Dậu / Giáp Tý / Mậu Thìn
        Bính Tuất -Đinh Hợi -Mậu Tý -Kỷ Sửu -Canh Dần -Tân Mão

        Đây là mệnh Lý Tham chính ở phần Luận Chính quan. Ất Canh hợp Sát lưu Quan (Tân tàng trong nguyệt lệnh Dậu), Bính Tuất Đinh -Thực Thương vận, Hợi Tý Sửu -Ấn vận, Mậu Kỷ -Tài vận, đều khả thi. Riêng Canh vận là gặp thêm Thất Sát hỗn cục, nhất định không phù hợp.

        Đinh Sửu / Nhâm Dần / Kỷ Tị / Bính Dần
        Tân Sửu -Canh Tý -Kỷ Hợi -Mậu Tuất -Đinh Dậu -Bính Thân

        Quan cách dụng Ấn vốn kị gặp Tài, mệnh này Đinh Nhâm tương hợp, Tài hóa thành Quan, kị thần biến thành hỷ thần, cách cục cũng vì hợp mà thanh thuần, nên thành cách đại quý. Kim trong Tị Sửu, tàng mà không thấu, khí chất lại hưu tù, vốn không cần nói đến, nhưng thừa dịp gặp vận Canh Tân dẫn xuất kim là điều không nên, mừng là nguyên cục có Bính hỏa hồi khắc, cũng là Ấn có khả năng hộ Quan. Dụng Ấn không nên gặp Tài, nên Tý Hợi vận không lợi, mừng là đóng ở địa chi không tổn thương Bính hỏa mà sinh Quan tinh, đang bất lợi trở thành cát lợi. Kỷ Mậu Đinh giúp thân trợ Ấn đều là cát vận; đến vận Dậu tam hợp hội tề thương khắc Quan tinh, trở thành bất lợi. Bính vận tốt nhất. Đây là mệnh quan Thái phó họ Phạm ở phần Chính quan.


        Nguyên văn:
        Trên đây đều là lời nói sơ lược, mỗi bát tự có mỗi cách luận khác nhau. Mỗi bát tự lại có thể gặp một chữ trong vận khác nhau, khi nghiên cứu tùy thời theo đó mà tuyển dụng thần, không thể dùng lời viết so cho đủ được. Thông thường các cách đều như thế, không riêng gì cách Chính quan.

        Từ chú thích:
        Hỷ hay kị của vận tùy theo bát tự phối hợp nên không có phép nhất định. Như hai mệnh trên, hai Canh hợp một Ất là Sát hỗn cục, mà mệnh họ Phạm gặp Đinh vận, lưỡng Đinh hợp Nhâm là vô ngại, bởi thế Sát khắc thân, Thiên Ấn giúp thân là hai vấn đề khác nhau. Nếu ngộ Nhâm vận, lưỡng Nhâm hợp Đinh, tức không thể được do Tài phá Bính Ấn thành Kị thần. Tùy theo cách cục mà biến hóa cho phù hợp, làm được như thế là thấu hiểu vậy.
        (Hết chương 32)

        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      12. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      13. #57
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 33. Luận Tài

        Nguyên văn:
        Tài là vật bị ta khắc chế để sử dụng, có thể sinh Quan, cho nên là điều tốt đẹp. Tài là tài bạch (tiền bạc), là thê thiếp, là tài năng, là Dịch mã, đều thuộc Tài.

        Từ chú thích:
        Tài là vật ta khắc chế, nên thân phải cường vượng thì mới có thể khắc chế nó được. Nếu thân nhược, tuy có Tài cũng không thể gánh được, trái lại Tài là họa. Tài là thứ không thể thiếu trong cuộc đời mỗi người, nhưng nhất định phải có tài năng và thế lực thì mới giữ vững để vận dụng, mới có thể bảo vệ phúc phận; ngược lại, nếu không bị tiểu nhân hãm hại, cũng là hạng vướng lao lý, tù tội mà thôi. Ở cách cục, dùng một mình Tài (đơn dụng Tài) rất ít, như thân cường lộ Quan, dụng Tài sinh Quan; thân cường Sát nhược, dụng Tài sinh Sát; thân cường Ấn vượng, dụng Tài chế Ấn. Trường hợp thân cường mà hỉ Thực Thương, dụng Thực Thương sinh Tài; Tài vượng thân nhược, dụng Tỷ Kiếp tranh Tài thì tốt đẹp. Tất cả đều không dùng duy nhất Tài.

        Nguyên văn:
        Tài hỉ rễ sâu (căn thâm), nhưng không nên quá lộ, được một Tài thấu ra làm dụng là thanh thuần, gọi là "thanh dụng", cách này tối hỷ, không gọi là lộ. Nghĩa là không phải dụng thần nguyệt lệnh, như (tháng) dần thấu Ất, mão thấu Giáp, v.v..., nếu chỉ có một cũng không quá mức, quá nhiều thì gọi là lộ. Song Tài vượng sinh Quan, lộ cũng không kị, vì lộ để phòng Kiếp, sinh Quan thì Kiếp thoái, ví như kho tiền lương ở phủ có quan canh giữ, cho dù để lộ ra thì ai dám cướp giật? Như mệnh quan Tham chính họ Cát: Nhâm Thân / Nhâm Tý / Mậu Ngọ / Ất Mão. Chẳng lẽ không phải Tài lộ sao? Chỉ vì sinh Quan cho nên không kị.

        Từ chú thích:
        "Rễ sâu", nghĩa là tàng ở trong địa chi, nếu thiên can là Tài, mà vô căn ở địa chi là thành "phù Tài" (tài sản luôn hoán đổi/của nổi, trong ý "của chìm của nổi"), không đủ để làm dụng. Dụng là Tài thì không thể bị cướp đoạt, nếu chỉ dùng một mình Tài làm dụng thì không được gặp Tỷ Kiếp.

        Nhâm Thân / Nhâm Tý / Mậu Ngọ / Ất Mão

        Cát mệnh tý thân hội cục, Nhâm thủy thông căn đắc khí, thời thấu Ất mão Quan tinh, thân vượng tọa Ấn, lấy Tài sinh Quan làm dụng, có Quan hộ Tài, đương nhiên không kị Tỷ Kiếp. Thuật Tử bình lấy đề cương làm trọng, nguyệt viên Tài tinh nắm lệnh, nên thuộc về Tài, chứ thực tế không phải lấy Tài làm dụng, Tài chỉ làm hỷ thần mà thôi. Đối với dụng Thực Thương sinh Tài không kị Tỷ Kiếp vì có Thực Thương hóa Kiếp.

        Nguyên văn:
        Quý cục của Tài cách không như nhau, như đối với trường hợp Tài vượng sinh Quan thì thân cường mà không thấu Thương Quan, không hỗn tạp Thất sát là quý cách.

        Từ chú thích:
        Tài vượng sinh Quan, dụng thần ở Quan, nên phải không thấu Thương Quan, không hỗn Thất sát thì tốt. Còn như lấy Tài là dụng thần thì phải hỷ Thương Quan sinh Tài tinh.

        Như:
        Kỷ tị / Quý dậu / Bính dần / Canh dần

        Tài vượng sinh Quan, dụng thần ở Tài, mặc dù thấu Kỷ thổ Thương Quan và tị dậu củng hợp, khí Kỷ thổ tiết cho kim, nghĩa là Thương Quan sinh Tài, Tài sinh Quan, hơn nữa mừng Quan gần Tài (Quý lâm dậu), không kị Kỷ thổ tổn hại, thành ra danh lợi lưỡng toàn.

        Nguyên văn:
        Trường hợp Tài dụng Thực sinh nghĩa là thân cường và Quan không lộ, mang một chút ít Tỷ Kiếp càng thấy hữu tình.

        Như:
        Nhâm dần / Nhâm dần / Canh thìn / Tân tị
        Đây là mệnh quan Thị lang họ Dương. Thấu Quan thân nhược, thì cách phá hư vậy.

        (Chú thích bổ sung:
        Tài cách kiến Thất Sát vốn e ngại đảng Sát, hỷ kiến Thực Thần thì Tị hỏa hóa thành Thiên Quan, Kiếp tài không đủ lực, nguyên luận trọng tâm ở Thực Thần hóa Kiếp, phao tin Tị hỏa bất luận, hơi thiên lệch.

        Thực Thương hỷ Tài sinh tất lấy Tài tinh làm dụng, khi thành dụng bất hỷ Quan Sát tương lâm thành tổ hợp bát tự không đương nổi, Quan sát tiết Tài thành bất mỹ. Như Thân cường có Tỉ Kiếp thì bất kỵ Tài vượng, khả dĩ nhậm Tài, nếu như vô Tỉ Kiếp và Tài tinh chế Ấn thì xấu. Dương tạo nguyệt lệnh Tài vượng, nhật nguyên tọa Thìn thổ Tân kim bang Thân, đủ để nhậm Tài. Địa chi Quan Ấn tương sinh hữu tình.)

        Từ chú thích:
        Thực thần sinh Tài thì dụng ở Thực thần, nên không lấy việc lộ Quan tinh làm quý. Tỷ Kiếp sinh Thực Thương, càng thấy hữu tình. Nếu dụng Tài chả lẽ hợp với Tỷ Kiếp ư? Tứ trụ họ Dương Canh kim tọa Ấn, tiết tú cho Nhâm; mùa xuân mộc mới manh nha nảy mầm, dựa vào thủy để bồi dưỡng, tú khí lưu thông; dần tị tàng hỏa, khí tượng ấm áp, mộc được nuôi dưỡng. Nếu Bính hỏa thấu thì thích hợp dụng Quan, không thể lấy Thực thần sinh Tài làm dụng.
        Con tiep..
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      14. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      15. #58
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Nguyên văn:
        Trường hợp Tài cách bội Ấn (đeo Ấn), là vì Tài đơn độc sẽ không hiển quý, khi bội Ấn sẽ trợ giúp cho thân, tức Ấn góp phần làm cho quý hiển.

        Như:
        Ất mùi / Giáp thân / Bính thân / Canh dần
        Mệnh của quan Tham chính họ Tăng có cách này và Tài Ấn nên cùng tồn tại.

        Như:
        Tài Ấn Kiếp
        Ất mùi / Kỷ mão / Canh dần / Tân tị
        Ất và Kỷ không phục nhau, dù có chổ tốt tiểu phú mà thôi.

        Từ chú thích:
        Tài ấn sử dụng đồng thời rất khó, không như Tài ấn cùng sử dụng trong chính Quan cách cùng dùng Quan làm dụng; cần phải bội ấn hẳn là thân nhược, mà tứ trụ lại không thể lấy cái khác trong khi Tài ấn tương chiến, bất đắc dĩ phải dụng. Nhưng Tài ấn cả hai đều thanh thuần, cách ly nhau và không phải e dè nhau thì thường đắc phú quý; chẳng phải thấy bội ấn thì có dấu hiệu quý hiển, mà vì vô ấn thì Tài nhiều thân nhược, lộ thêm Quan sát, thì phải bỏ mệnh để tòng mà thôi. Thân nhược đắc Ấn thì dụng thần quyết định ở Ấn, theo đó hành vận Quan sát là tốt đẹp, vừa có thể tiết Tài khí, lại có khả năng sinh Ấn, cũng là một phép hòa giải (Tài vs Ấn). Mệnh họ Tăng có Giáp Ất thông căn ở dần, Tài Ấn song thanh, hứa hẹn sẽ tốt đẹp. Xem một mệnh gần giống sau đây:

        Ấn Ấn Tài
        Quý tị / Nhâm tuất / Ất tị / Mậu dần

        Cũng là Tài ấn song thanh, ở giữa được ngăn cách bởi Ất mộc, nên cả hai không phải dè nhau. Nhâm Quý dù không thông căn nhưng tiến khí, thổ Thương quan ám tàng nhưng vượng khiến thổ thiếu nước làm mộc khô héo, không thể không dụng thủy Ấn tinh. Đây là một người rất thông minh, hồi nhỏ đã được hưởng phúc ấm, ra xã hội làm đến Cục trưởng đường bộ toàn tỉnh; chết ở vận tuất, năm hợi, tháng hợi, ngày thân, giờ thân là Tài phá Ấn lại gặp tứ xung.

        Thêm một mệnh:
        Tài Tài Ấn
        Quý dậu / Quý hợi / Mậu tý / Đinh tị

        Tài ấn song thanh, cả hai cũng không phải e dè nhau, trụ giờ phùng Quy Lộc. Hành vận Tỷ Kiếp phát tài mấy triệu đồng, trở thành một thương gia lớn ở Chiết Giang, là do Kiếp bảo hộ Ấn chia Tài mà dùng.

        Nguyên văn:
        Trường hợp dụng Thực mà kiêm dụng Ấn, Thực và Ấn cũng không e ngại nhau, hoặc có ám Quan mà khử Thực hộ Quan, đều là quý cách.

        Như mệnh một Bảng nhãn họ Ngô:
        Thực Tỉ Ấn
        Canh tuất / Mậu tý / Mậu tý / Bính thìn
        Canh và Bính cách nhau bởi hai Mậu nên không khắc nhau, Thực và Ấn cũng không e ngại nhau.

        Hoặc như Bình Giang Bá mệnh:
        Thực Ấn
        Nhâm thìn / Ất tị / Quý tị / Tân dậu
        Tuy Thực Ấn khắc nhau, mà muốn bảo vệ Mậu Quan tinh trong tị thì phải khử Thực hộ Quan, nếu không thì giảm phúc.

        Từ chú thích:
        Đoạn này đủ gây rối loạn người đọc, như mệnh họ Ngô, tháng tý Chính Tài nắm lệnh với dư khí Quan tinh Ất mộc trong thìn là Tài vượng tự sinh Quan, đây gọi là Ám Quan. Năm là Canh kim nhàn thần, Tài tự vượng không cần Thực sinh, Thực cũng không thể làm tổn hại đến Ám Quan, ở giờ thấu ra Bính hỏa khử đi là tác dụng phụ mà thôi. Giữa đông thủy hàn thổ đống (nước lạnh đất đóng băng) làm sao có thể sinh mộc? Đắc Bính hỏa sưởi ấm, thủy lưu thông, mộc có sức sống, ở đây điều hậu hết sức cần thiết, mà dụng Bính hỏa thì phải vô Thực thần nên cũng thích hợp dụng Ấn, chả nhẽ để không e ngại nhau mà dụng Ấn ư?

        Mệnh Bình Giang Bá, Quý thủy nhật nguyên, niên có Nhâm thân, thời gặp Tân dậu, cho dù tháng tư thủy lâm tuyệt địa, còn Ấn vượng thân cường, Ất mộc vô căn, kiêu ấn đoạt Thực, hiển nhiên lấy Tài (Bính) trong tị phá Ấn sinh Quan làm dụng. Ất mộc sinh Tài, không hề ngại Quan, tại sao phải dùng Kiêu Ấn khử Thực hộ Quan?

        Nguyên văn:
        Trường hợp Tài dụng Thương Quan, Tài không quá vượng còn Tỷ cường thì lấy một vị Thương Quan để hóa (Kiếp sinh Tài).

        Như:
        Giáp tý / Tân mùi / Tân dậu / Nhâm thìn

        Giáp thấu ra ở mùi khố, gặp Tân là bị cướp đoạt, được Nhâm hóa Kiếp sinh Tài, đây là mệnh Uông Học sĩ, Tài vượng không có Kiếp mà thấu Thương ngược lại thành bất lợi, bởi do Thương Quan vốn không phải vật tốt lành, vì Tài nhẹ thấu Kiếp bất đắc dĩ phải dùng. Tài vượng mà lộ Thương, tội gì phải dụng nó (Thương)? Dụng nó chỉ khiến chỉ vì Tài gặp được Thương mà khiến Quan sống dở chết dở, sao có thể yên tâm tìm phú quý.

        Từ chú thích:
        Lý luận này chưa được hợp lý, Tỷ Kiếp vượng mà Tài khinh, đương nhiên lấy Thực Thương sinh Tài là tốt, bởi Tài Quan Ấn Thực chẳng qua là tên gọi áp đặt cho sinh khắc ngũ hành, cái khắc Quan gọi tên là Thương quan mà thôi. Trường hợp dụng Thương Quan thì thiếu gì mệnh phú quý, sao lại gán cái ác cho cái tên rồi đâm ghét nó? Mệnh Uông học sĩ quả thực Tỷ Kiếp khá vượng, sinh trong tháng sáu, thổ táo kim giòn, cần thủy để nhuận, cũng tức là dùng điều hậu; sau nữa là tiết kim, hóa Kiếp sinh Tài, nên mới lấy Thương Quan làm dụng. Tài vượng không có Kiếp mà thấu Thương, thì nên bội ấn; nếu không có Kiếp và không có Ấn thì trường hợp này Tài nhiều thân nhược sao mong phú quý được? Nên cái gọi là "làm cho Quan sống dở chết dở" chẳng qua là lời quanh co bảo thủ mà thôi.

        Nguyên văn:
        Trường hợp Tài mà đới Thất sát, hoặc hợp Sát tồn Tài, hoặc chế Sát sinh Tài, đều là quý cách cả.

        Như mệnh Mao Trạng nguyên:
        Ất dậu / Canh thìn / Giáp ngọ / Mậu thìn, là trường hợp "hợp Sát tồn Tài";

        Còn mệnh Lý Ngự sử:
        Canh thìn / Mậu tý / Mậu dần / Giáp dần, là trường hợp chế Sát sinh Tài.

        Từ chú thích:
        Mệnh của Mao Trạng nguyên, Ất Canh hợp nhưng Sát (khí kim) vẫn còn, thìn dậu hợp để Tài hóa sát, nên gọi là "hợp Sát tồn Tài", ý nghĩa này chưa hợp lý lắm. Giáp mộc sinh ở tháng ba, mộc dư khí, hỏa tiến khí, nhưng kim hưu tù. Đinh hỏa trong ngọ hiển dương uy thế, chế Sát làm dụng, và hành vận Kỷ mão, Mậu dần, Đinh sửu, Bính tý đều chế Sát giúp cho bản thân, cho nên mới quý, chả lẽ đây lại là ý nghĩa "hợp Sát tồn Tài" trong nguyên văn ư?

        Mệnh của Lý Ngự sử, tự thân và Sát cả hai đều vượng, Thực thần chế Sát làm dụng, càng mừng ở chổ thổ kim thủy mộc sinh trợ khắc chế lẫn nhau, thần khí trong mệnh lưu chuyển thông suốt, chế Sát sinh Tài, đây chính xác mới là biểu hiệu của hiển quý, chứ không phải chỉ có Tài làm dụng mới quý.
        ....
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      16. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      17. #59
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Nguyên văn:
        Trường hợp Tài dụng Sát Ấn, bè đảng Sát là kị thần, dùng Ấn để hóa chúng, cách liền trở thành các cục giàu có (phú cục), nếu thổ mùa đông gặp trường hợp này cũng là quý cách.

        Như mệnh Triệu Thị lang:
        Ất sửu / Đinh hợi / Kỷ hợi / Ất hợi

        Ở đây hóa Sát tức là hóa giải đóng băng, thêm không lộ Tài mà tạp Ấn cho nên quý hiển. Nếu Tài dụng Sát Ấn mà chỉ có một Ấn, Tài Sát đều thấu, không những không hiển quý mà còn chẳng giàu có.

        Từ chú thích:
        Mệnh Triệu Thị lang, Tài tàng và không phá Ấn, Đinh hỏa hóa Sát giải trừ băng giá, ứng với mệnh phú quý. Then chốt là ở Ấn, dụng thần là Ấn không được có Tài, nếu Tài thấu ra thì hùa với bè đảng Sát để phá Ấn, sao có thể hi vọng phú quý được.

        Nguyên văn:
        Còn trường hợp Nhâm sinh ngọ nguyệt, Quý sinh tị nguyệt, Tài đơn thấu mà vẫn quý hiển, lại thêm nguyệt lệnh ám Quan. Như mệnh Lâm Thượng thư: Bính dần / Quý tị / Quý mùi / Nhâm tuất, thuộc trường hợp này.

        Lại có trường hợp Nhâm sinh tị nguyệt, Tài đơn thấu mà cũng quý hiển là vì nó thấu Bính tàng Mậu, bỏ Sát mà đến với Tài, giống như giữ lại cái đẹp, mà bỏ cái người ta tặng vậy. Như mệnh Vương Thái phó thuộc trường hợp này:

        .. Tài..........Kiếp .......................... Tỉ
        Bính thìn / Quý tị / Nhâm tuất / Nhâm dần
        ..............Bính-Mậu-Canh.............
        ..............Tài - Sát - Kiêu

        Từ chú thích:
        Hai mệnh họ Lâm và họ Vương, đúng là đơn dụng Tài. Tị nguyệt thấu Bính hỏa, chân thần đắc dụng, đương nhiên quý hiển. Nhưng Nhâm Quý gốc yếu (căn khinh), vận hỉ giúp cho thân, vào tuổi trung niên, vận trình phương tây bắc (Bính thân, Đinh dậu, Mậu tuất, Kỷ hợi, Canh tý, Tân sửu), thể dụng phù hợp. Thời trẻ vận Giáp ngọ Ất mùi đều không đẹp, hai người tương tự nhau. Nếu bảo do ám Quan mà quý hiển, thì vận thích hợp với Tài Quan; còn cho rằng bỏ Sát mà quý hiển thì Sát vốn chẳng cần phải bỏ, tựa như lý luận không đầy đủ vậy.

        Nguyên văn:
        Về phần Kiếp Nhận quá mạnh, bỏ thì phải Tài theo Sát, như mệnh một quan Thượng thư: Bính thìn / Bính thân / Bính ngọ / Nhâm thìn, đã biến hóa rồi lại còn biến thêm vậy.

        Từ chú thích:
        Mệnh này nhật nguyên tọa Nhận, Sát lộ Nhận tàng, thân cường địch được Sát dù thủy mùa thu thông nguồn; còn thân lại vượng, nếu không có Kiếp Nhận trùng điệp trợ giúp cố nhiên không thể dụng Sát; thêm vào đó trung niên vận trình tây bắc, hóa Sát thành quyền, Tài theo Sát mà hóa, nên cần quy về Thiên Quan cách. Nay từ Tài cách mà luận ra, đúng là biến của biến rồi.
        Kimtubinh.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      18. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      19. #60
        Tham gia ngày
        Mar 2014
        Bài gửi
        429
        Cảm ơn
        13
        Được cảm ơn: 110 lần
        trong 94 bài viết

        Default

        Chương 34. Luận Tài thủ vận

        Nguyên văn:
        Tài cách thủ vận, tức lấy Tài cách đã định cục rồi phân ra để phối với vận. Trường hợp Tài vượng sinh Quan, vận hỷ thân vượng Ấn thụ, bất lợi Thất Sát, Thương Quan; nếu (Tài) sinh Quan rồi sau vận thấu Ấn, gặp Thương Quan cũng không hại lắm. Còn như (Tài) sinh Quan mà kèm theo Thực phá hỏng cục, thì vận hỉ Ấn thụ, còn như gặp Sát phản lại là tốt lành.

        Từ chú thích:
        Tài vượng sinh Quan, tương tự Chính Quan cách; hoặc nguyệt lệnh là chính Quan, hoặc nguyệt lệnh là Tài mà thôi. Tài Quan vượng mà thân khinh, vận hỉ thân vượng Ấn thụ; Tài Quan khinh còn thân vượng thì thích hợp vận Tài Quan. Thất Sát làm hỗn cục hoặc Thực Thương ngăn cản Quan đều là kị cả.

        Như: Nhâm thân / Nhâm Tý / Mậu ngọ / Ất mão
        Đại vận: Quý Sửu - Giáp Dần - Ất Mão - Bính Thìn - Đinh Tị - Mậu Ngọ - Kỷ Mùi

        Đây là mệnh Cát Tham chính ở chương Luận Tài, dụng thần tại Ất mộc Quan tinh, nguyệt lệnh Tài vượng sinh Quan. Giáp vận Thất Sát hỗn cục nên bất lợi; gặp dần vận hội ngọ thành hỏa cục, giải đi tý ngọ xung trong nguyên cục, cũng là một vận trợ thân nên tốt; mười năm vận Ất mão, Quan tinh thanh thuần, tuy vượng mà không lo; các vận Bính thìn, Đinh tị, Mậu ngọ, Kỷ mùi đều là vận tốt, chỉ kị đất kim thủy mà thôi.

        ( Lâm chú thích: Tứ trụ này Dụng thần cần chọn Ngọ hỏa ở nhật trụ, tức thành Chính Quan bội Ấn kiêm điều hậu sưởi ấm cục, vì thế hành vận một mạch mộc hỏa thổ thân vượng, vận ấm áp nên đều tốt. )

        Nếu trong cục thấu Ấn, hành vận Thực Thương mà không lo là vì có Ấn hồi khắc hộ Quan ( xem thêm mệnh quan Thái phó họ Phạm ở trên, đoạn: Quan cách dụng Ấn ). Nếu trong cục kèm Thực Thương, là Quan tinh mang bệnh, hành Ấn vận khắc chế Thực Thương là thuốc chữa bệnh, chuyển thành vận rất tốt. Về ý Sát vận chuyển tốt do có Thực Thương hồi khắc, chỉ là không làm hại mà thôi, chứ không thể cho là vận tốt đẹp được.

        Nguyên văn:
        Trường hợp Tài dụng Thực sinh, Tài Thực trọng mà thân khinh thì hỉ trợ giúp thân; Tài Thực khinh mà thân trọng thì hành vận Tài Thực vẫn được. Sát vận không kị, Quan Ấn vận trái lại mờ mịt.

        Từ chú thích:
        Tài dụng Thực sinh tức cách Thực thần sinh Tài, chỉ Tài ở nguyệt lệnh, cho nên gọi là Tài dụng Thực sinh. Cũng phân ra hai trường hợp là thân khinh và thân trọng, thân yếu nên được (vận) trợ giúp, thân mạnh thì thích hợp với (vận) Tài Thực.

        Như:
        Nhâm dần / Nhâm dần / Canh thìn / Tân tị
        Quý Mão - Giáp Thìn -Ất Tị - Bính Ngọ - Đinh Mùi - Mậu Thân

        Là mệnh quan Thị lang họ Dương ở chương Luận Tài, vốn là cách Thực thần sinh Tài, lực nhật nguyên, Tài Thực đồng đều nhau, hành vận Thực Thương Tài là tốt, tức các vận Quý mão, Giáp thìn, Ất tị. Sát vận Bính hỏa không kị vì có Thực Thương hồi khắc, và cục lại được sưởi ấm. Đầu xuân thủy mộc được hỏa để phát triển tươi tốt, thế tại sao vận Quan Ấn (Đinh mùi, Mậu thân) trái lại mịt mờ? Đó là do Đinh hỏa Quan tinh hợp Nhâm dụng thần; còn Mậu thổ Ấn thụ khắc chế Nhâm thủy, tức dụng thần bị thương, cho nên mới nói là "mờ mịt" vậy.

        Nguyên văn:
        Tài cách bội Ấn, vận hỉ đất Quan; trường hợp Tài cách bội Ấn mà thân nhược thì thích hợp nhất vận Ấn vượng.

        Từ chú thích:
        Về phần Tài cách bội Ấn thì điều kiện quan trọng nhất là Tài Ấn phải không e dè nhau, nghĩa là tức không đánh phá nhau trong trụ.

        Như mệnh quan Tham chính họ Tăng ở chương trước:
        Ất mùi / Giáp thân / Bính thân / Canh dần

        Bính hỏa trường sinh, Giáp mộc đắc lộc ở dần, còn Canh kim lộc ở Thân, Giáp Canh đều thấu và được cách ly bởi Bính hỏa, đây là Tài Ấn không dè chừng nhau, song rốt cuộc hiềm khích thân khinh Ấn nhược. Canh kim nắm lệnh và vượng, nên gặp vận giúp thân là tốt, thích hợp nhất vận Ấn vượng. Nhưng tại sao lại hỷ Quan Sát? là vì Tài sinh Quan còn Quan sinh Ấn, cũng có nghĩa thông quan. Tài Ấn đều thấu, phải có điều kiện không dè chừng nhau.

        Như mệnh sau là Tài Ấn dè chừng nhau:

        Ất Mùi / Kỷ Mão / Canh Dần / Tân Tị
        Mậu Dần - Đinh Sửu - Bính Tý - Ất Hợi - Giáp Tuất - Quý Dậu

        Ất Kỷ là Tài Ấn cùng thấu và cùng đứng song song thì Tài sẽ phá Ấn, nhật nguyên Canh kim thêm nhược, phải lấy Kiếp làm dụng. Vận hành Kiếp Tài phò trợ thân là vận tốt, Ấn vận cũng được. Quan Sát vận vẫn còn được, chứ vận Thực, Thương, Tài thì không thích hợp. Mặc dù cách cục tứ trụ thanh thuần, cuộc sống có thành tựu nhưng chỉ tiểu phú mà thôi, không thể quý hiển ( xem lại chương Luận Tài ).

        Nguyên văn:
        Trường hợp Tài dụng Thực Ấn, Tài yếu thì hỷ Tài Thực; thân yếu thì hỉ Tỷ Ấn; Quan vận có trở ngại; còn Sát vận trái lại không kị.

        Từ chú thích:
        Tài dụng Thực Ấn, nguyệt lệnh Tài tinh mà can thấu Thực Ấn. Như vậy cũng nên xem tứ trụ phối hợp, như mệnh Ngô Bảng nhãn ở chương trước:

        Canh Tuất / Mậu Tý / Mậu Tý / Bính Thìn
        Kỷ Sửu - Canh Dần - Tân Mão - Nhâm Thìn - Quý Tị - Giáp Ngọ

        Nguyệt lệnh Tài vượng, niên là Canh, giờ là Bính, Thực Ấn xa cách nhau và không e ngại nhau, mấu chốt của nó ở chổ Bính hỏa. Tài tàng ở địa chi còn Ấn thấu lộ. Tài Ấn không tương ngại là quý, niên can lộ Canh kim không đáng kể. Mậu thổ thân nhược, vận hỷ Tỷ Ấn, và tại sao ngại Quan vận mà Sát vận không kị? Bởi vì Quan vận là Ất mộc, Ất Canh hóa hợp thành Thực thần, tăng thế lực của Tài, còn Sát là Giáp vận thì sinh trợ Bính hỏa. Nhưng Canh dần Tân mão, kim không thông căn, mộc trợ giúp thế lực hỏa, nên là vận tốt; vận Nhâm thìn Bính hỏa bị thương, tý thìn hiệp đồng, e rằng quý hiển mà khó thọ.

        Nhâm Thìn / Ất Tị / Quý Tị / Tân Dậu
        Bính Ngọ - Đinh Mùi - Mậu Thân - Kỷ Dậu - Canh Tuất - Tân Hợi

        Đây là mệnh Bình Giang Bá ở chương Luận Tài, tuy Thực Ấn đều thấu và Thực vô căn, Quý thủy nhật nguyên hưu tù, song Ấn vượng vì tị dậu, thìn dậu đều hợp về kim. Bính Mậu trong tị đắc lộc, Quan được Tài sinh, thiên can Ất tương trợ, dù Ấn khắc Thực cũng không tổn hại quý khí, vậy mới gọi là Tài khinh hỷ hành Tài vận. Vận Thực thần sinh Tài cũng tốt, còn Quan vận càng đẹp. Thân dậu Canh Tân Ấn trợ giúp thân thêm vượng, không tránh khỏi u ám. Đây là ám Tài Quan cách, Ấn khử Thực, chính là tác dụng phụ.
        .......
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      20. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "quangvinhn" về bài viết có ích này:

        kimlong (06-04-14)

      Trang 6/13 đầuđầu ... 45678 ... cuốicuối

      Đề tài tương tự

      1. Trả lời: 3
        Bài mới: 10-08-12, 09:09
      2. Tử bình chân thuyên
        By Ducminh in forum Tủ sách Huyền Không Lý Số
        Trả lời: 8
        Bài mới: 15-10-10, 20:58

      Tags for this Thread

      Quuyền Hạn Của Bạn

      • Bạn không thể gửi đề tài mới
      • Bạn không thể gửi trả lời
      • Bạn không thể gửi đính kèm
      • Bạn không thể sửa bài viết của mình
      •