Chào Hà Dương,
Thấy không ai thảo luận vấn đề này với Hà Dương, tuy tiểu huynh không phải là Dịch gia gì cả, nhưng củng ráng lôi đống sách Dịch ra đọc lại để mà cùng Hà Dương đàm đạo cho vui vậy.
Trước hết muốn hiểu những gì Hà Dương viết thì phải hiểu đến Thuyết Quái Khí vậy.
Thiết Quái Khí là do Mạnh Hỷ đề xướng. 64 quái lấy Khãm Ly Chấn Đoài ra để dại diện cho 4 mùa, còn lại 60 quái lấp vào 12 tháng, mỗi tháng 5 quẻ, tức mỗi quẻ là đuợc “6 Nhật 7 Phân”
Khỡi đầu là quẻ Trung Phù tại tiết Đông Trí tại Tý (Tháng 11) thuận tự như sau:
Tháng 11: ................................................., T.Phù (110011), Phục ---(000001)
Tháng 12: Truân -(010001), Khiêm -(000100), Khuê --(101011), Thăng (000110), Lâm ----(000011)
Tháng 01: T.Quá -(001100), Mông --(100010), Ích ---(110001), Tiệm -(110100), Thái ---(000111)
Tháng 02: Nhu ---(010111), Tùy ---(011001), Tấn ---(101000), Giải -(001010), Đ.Tráng (001111)
Tháng 03: Dự ----(001000), Tụng --(111010), Cổ ----(100110), Cách -(011101), Quải ---(011111)
Tháng 04: Lữ ----(101100), Sư ----(000010), Tỷ ----(010000), T.Súc (110111), Càn ----(111111)
Tháng 05: Đ.Hửu -(101111), G.Nhân (110101), Tĩnh --(010110), Hàm --(011100), Cấu ----(111110)
Tháng 06: Đỉnh --(101110), Phong -(001101), Hoán --(110010), Lý ---(111011), Độn ----(111100)
Tháng 07: Hằng --(001110), Tiết --(010011), Đ.Nhân (111101), Tổn --(100011), Bỉ -----(111000)
Tháng 08: Tốn ---(110110), Tụy ---(011000), Đ.Súc -(100111), Bí ---(100101), Quan ---(110000)
Tháng 09: Q.Muội (001011), V.Vọng (111001), M.Di --(000101), Khốn -(011010), Bác ----(100000)
Tháng 10: Cấn ---(100100), K.Tế --(010101), P.Hạp -(101001), Đ.Quá (011110), Khôn ---(000000)
Tháng 11: Vị Tế -(101010), Kiển --(010100), Di ----(000101),
Nhìn ỡ bản Quái Khí, thì hàng sau cùng chính là 12 Tịch Quái.
60 quẻ, mỗi quẻ quản “6 Nhật 7 Phân”, tức là (6+7/80) * 60 = 365.25 ngày.
Như vậy ta thấy rằng Thuyết Quái Khí này căn cứ vào chu kỳ của Mặt Trời.
Một năm trái đất đi 360 độ trên quỷ đạo xoay quanh mặt trời, vậy
360/60 quái = 6 độ mỗi quái. 5 quái x 6 độ = 30 kinh độ mặt trời (Sun Longitude), của vừa vặn một tháng Âm (hai tiết khí).
Thoán Từ của Quẻ Lâm nói:
Lâm Nguyên hanh lợi trinh, trí vu bát nguyệt hữu hung.
Ỡ đây muốn nói từ quẻ Lâm (1), Thái (2), Đ.Tráng (3), Quải (4), Càn (5), Cấu (6), Độn (7), Bỉ (8), 8 tức quẻ Bỉ, tức nói nên phòng xa, thời đang tốt thì nên nghĩ đến thời khó khăn sắp đến.
Nếu tiếp tục truy xét cái vòng 8 này thì ta có
01 Lâm - Bỉ
02 Bỉ - Đ.Tráng
03 Đ.Tráng – Bác
04 Bác – Càn
05 Càn - Phục
06 Phục - Độn
07 Độn – Thái
08 Thái – Quan
09 Quan - Quải
10 Quải – Khôn
11 Khôn - Cấu
12 Cấu – Lâm
Từ quẻ Bỉ (111000) đến quẻ Thái (000111), đi hết 6 vòng.
6x8 = 48 quẻ.
Phương pháp biến hào Tiệm Tiến của ngày Kinh Phòng, nói đúng ra thì chỉ đi được 48 quẻ, không thể nào cho ra quẻ Quy Hồn và Du Hồn, vì vậy mà phải dùng cách biến 3 hào dưới.
Tiểu Huynh nhớ lúc trước bác Hà Uyên có nói đến vấn đề 1=49, tức chu kỳ thật của Dịch là 48.
Không biết Hà Dương suy nghĩ đến vấn đề này như thế nào?
Ở trên là nói theo vòng 8, nhưng nói theo vòng 7 thì ta có:
Từ quẻ Phục là 1, Lâm 2, Thái 3, Đại Tráng 4, Quải 5, Càn 6, Cấu 7
Từ Cấu 1, Độn 2, Bỉ 3, Quan 4, Bác 5, Khôn 6, Phục 7
Phục Nhất Dương, Cấu Nhất Âm, tuần hoàn trong chu kỳ 7, nên mới nói “Thất Nhật Lại Phục” hoặc “Thất Nhật Lai Cấu”

Nguyên văn bởi
Phạm Hà Dương
"Chí vu bát nguyệt hữu hung"
..............................
Ba vòng 8 tháng tương ứng với 3 năm, khởi Dần kết thúc tại Sửu, sẽ xảy ra trường hợp, đó là có một thiên can không thuận tự theo địa chi, hai tháng lưỡng trùng một thiên can, theo Lịch pháp thì gọi là tháng Nhuận, theo Linh kỳ thì gọi là Vô thiên
Vô thiên (không trời) thì Dịch Kinh, Lâm quái nói "Hữu hung"
Tại sao Dịch Kinh đưa ra kết luận "hữu hung" như vậy?
Kinh mong các dịch gia cho lời bình giải.
Ba vòng 8 tháng, tức là 24 tháng hoặc 2 năm, thì phải tới năm thứ 5 mới có thêm 1 nhuận, tức theo quy luật Metonic cycle 19 năm 7 lần nhuận.
Một năm Tropical = 365.2421896698 ngày
Một tháng Synodic = 29.530587981 ngày
365.2421896698 x 19 = 6939.6016037262 ngày
29.530587981 x (19x12) = 6732.974059668
6939.6016037262 - 6732.974059668 = 206.6275440582
206.6275440582 / 29.530587981 = 6.9970684021308447918641528927707
Tức là dư ra 7 Tháng Synodic (Âm Lịch). Mỗi 19 năm phải có 235 tháng Âm lịch vậy.
vì vậy các lịch pháp TQ đều dùng 19 làm một Chương.
Nếu ra roundoff để dễ tính toán thì ta có
Năm = 365.2422 ngày
Tháng = 29.5306 ngày
365.2422 x 2 năm = 730.4844 ngày
29.5306 x 24 tháng = 708.7344
730.4844 – 708.7344 = 21.75
Như vậy trong 3 vòng 8 tức 24 tháng (2 năm) thì số dư chỉ mới 21.75, chưa đủ nhuận 1 tháng.
Năm 1
29.5306 x 12 = 354.3672
365.2422 – 354.3672 = 10.875 ~ 11 ngày
Năm 2
29.5306 x 24 = 708.7344
365.2422 x 2 = 730.4844
730.4844 – 708.7344 = 21.75 ~ 22 ngày
Nếu ta đặt nhuận ở năm thứ 2 này thì ta có
708.7344 + 30(N1) = 738.7344
730.4844 - 738.7344 = -8.25 ~ -8 ngày (âm lịch kết thúc sau dương lịch 8 ngày)
Năm thứ 3
29.5306 x 36 = 1063.1016
1063.1016 + 30(N1) = 1093.1016
365.2422 x 3 = 1095.7266
1095.7266 – 1093.1016 = 2.625 ~ 3 ngày
Năm thứ 4
29.5306 x 48 = 1417.4688
1417.4688 + 30(N1) = 1447.4688
365.2422 x 4 = 1460.9688
1460.9688 – 1447.4688 = 13.5 ngày
Như vậy cho thấy năm thứ 4 sẻ không có nhuận nếu ta đặc tháng nhuận đầu tiên ở năm thứ 2
Năm thứ 5
29.5306 x 60 = 1771.836
1771.836 + 30(N1) = 1801.836
365.2422 x 5 = 1826.211
1826.211 – 1801.836 = 24.375 ~ 24 ngày
Đặt thêm một nhuận 30 ngày (N2)
1801.836 + 30(N2) = 1831.836
1826.11 – 1831.836 = -5.726 ~ -6 ngày (tức âm lịch kết thúc sau dương lịch 6 ngày)

Nguyên văn bởi
Phạm Hà Dương
- 2 năm Nguyệt vận hành 3 vòng khởi Dần kết thúc tại Sửu
- 4 năm Nguyệt vận hành 6 vòng
- 6 năm Nguyệt vận hành 9 vòng
- 8 năm Nguyệt vận hành 12 vòng
- 10 năm Nguyệt vận hành 15 vòng
10 năm, là một tuần Giáp, lời Thoán quẻ Cổ nói: "Trước ngày Giáp ba ngày, sau ngày Giáp ba ngày" để làm gì?
Chúc cả nhà Ngày mới vui vẻ
Sự tính toán cách đặt nhuận ở trên cho ta thấy nếu đặt nhuận ở năm thứ 2 thì phải tới năm thứ 5 mới đặt thêm một nhuận vậy. Nếu 3 vòng 8 tháng (2 năm) của Nguyệt có nhuận thì phải tới 7.5 vòng 8 tháng (5 năm) mới lại có nhuận vậy.
Một Chương 19, phải có 7 lần Nhuận, cách sắp đặt 7 lần Nhuận này tùy mỗi thời mỗi lịch pháp đặt vào các tiết khí củng có sự khác nhau.
Quẻ Cổ (100110), Thoán từ viết:
Cổ, Nguyên hanh. Lợi thiệp đại xuyên.
Tiên Giáp tam nhật. Hậu Giáp tam nhật.
Trước Giáp 3 ngày tức Tân, sau Giáp 3 ngày tức là Đinh.
Theo lời giải quẻ Cổ ở trang nhantu.net
http://nhantu.net/DichHoc/THUONGKINH/18Co.htm
Tân tức Canh Tân, Đinh tức Đinh Ninh,
Tiên Giáp tam nhật = phải biết nhìn về quá vãng
Hậu Giáp tam nhật = phải biết nhìn về tương lai để xếp đặt kế hoạch.
Giáp Tý thì trước là Tân Dậu, sau là Đinh Mão
Giáp Tuất thì trước là Tân Mùi, sau là Đinh Sửu
Giáp Thân thì trước là Tân Tỵ, sau là Đinh Hợi
Giáp Ngọ thì trước là Tân Mão, sau là Đinh Dậu
Giáp Thìn thì trước là Tân Sửu, sau là Đinh Mùi
Giáp Dần thì trước là Tân Hợi, sau là Đinh Tỵ
Như trên ta thấy ở đây có 3 cập chi Mão-Dậu, Sửu-Mùi, Tỵ-Hợi đều là cập xung nhau, và can Giáp đều nằm ở giữa 3 cập xung này. Như vậy ta có sự suy nghỉ như thế nào?
Xét theo Can Chi Nạp quẻ (của ngài Kinh Phòng) thì ta có các hào của quẻ Càn Tốn, Đoài như sau:
Càn, Tốn, Đoài
1,3,2
6,4,3
5,5,4
4,6,5
3,1,6
2,2,1
Không biết các lời Hào Từ cho ta ý nghĩa gì nhỉ?
Thân
thay đổi nội dung bởi: VinhL, 28-04-17 lúc 02:18
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số